





Trong hoạt động can thiệp trẻ tự kỷ – ngoài mục tiêu tác động để trẻ biết nói, đa phần phụ huynh thường ưu tiên về những kỹ năng mà trẻ cần phải đạt được về mặt kiến thức – Để có thể đi đến mục đích quan trọng nhất mà con cần phải đạt được : Mái trường hòa nhập. Phần lớn, khi đã nỗ lực can thiệp cho con có ngôn ngữ, nói được, biết trả lời đúng ngữ cảnh , ai cũng đặt ra câu hỏi : Con tôi đã hòa nhập được chưa ? Nếu như có trung tâm hay giáo viên nào “dám” nhận định : Cháu tuy có ngôn ngữ, biết trả lời, có khi còn biết hỏi nữa – dù câu hỏi và trả lời vẫn còn thô sơ, mà đưa ra lời khuyên : Cháu cần phải biết thêm nhiều kỹ năng nữa, nhất là các kỹ năng cá nhân – Là có khả năng, Phụ huynh sẽ “say goobye” để đi tìm nơi dám nói “chắc nịch”: Cháu đi học hòa nhập được mà – Chị cứ cho cháu đến trường, rồi cháu chơi với bạn, thì cháu dần dần sẽ khá hơn, biết phát triển các kỹ năng giao tiếp. Điều này có thể đạt được nếu không phải là trẻ rối loạn phát triển, mà chỉ là chậm nói đơn thuần ở mức độ nhẹ.
Nhưng đó là ước mơ tốt đẹp nhất của Phụ huynh trẻ RLPT mà ít ai dám hay nỡ phá vỡ, chỉ có thể để cho phụ huynh tự rút ra bài học sau khi trẻ lên 10 – lên 12 … dù đã nhập đủ loại trường, ngồi đủ loại lớp nhưng vẫn không thể hòa được với chúng bạn, thậm chí có khi còn thoái lùi trong các hoạt động tương tác và có khi còn bộc lộ ra những phản ứng rất khó lường về hành vi và cảm xúc. Thì đến lúc đó, PH mới rút kinh nghiệm khá muộn màng trong việc định hướng cho con.
Có một vài phụ huynh đã tâm sự – Giá như khi cháu còn nhỏ, tôi biết tập trung cho cháu những kỹ năng cá nhân thiết yếu, biết tự phục vụ bản thân, biết cùng làm việc nhà với mẹ, thì đến bây giờ cho dù cháu còn kém cỏi về văn hóa, nhưng cũng không khiến cho bố mẹ vẫn cứ phải phục vụ một cậu thiếu niên khôi ngô đĩnh đạc nhưng vụng về trong các các hoạt động cá nhân như một đứa trẻ lên ..ba ! Thế nhưng, nếu như có phép màu kéo lui lại thời gian – thì có lẽ Phụ huynh vẫn cứ tiếp tục xây ước mơ con mình có thể bước vào một ngôi trường, ngồi chung với các bạn …. Hơn là xắn tay lên để huấn luyện con những chuyện lặt vặt trong gia đình , vì đối với PH thì đó không phải là điều quan trọng càng không phải là mục tiêu của “chương trình can thiệp” cho trẻ hòa nhập!
Những chuyện tự biết ăn uống, tắm rửa, quét dọn nhà cửa .. đâu phải là mục tiêu được đặt lên hàng ưu tiên ? Đã có bố mẹ và ô sin hay chính bố mẹ cũng là ô sin, phục vụ con tận răng, chỉ yêu cầu là con phải biết học, biết đọc, viết, làm toán ..mà mục tiêu là phải vào tiểu học cho bằng được, rồi sau đó lên trung học ….Tuy không mong con vào Harvard nhưng ít ra thì cũng phải hết cấp Ba, vào cao đẳng mới may ra có thể sống được trong xã hội này – Trong khi ngoài xã hội hiện nay, không thiếu các bạn trẻ cũng chỉ vì giấc mơ Đại học mà đã trở thành cử nhân xe ôm – được mặc áo xanh, áo đỏ làm việc cho tập đoàn nước ngoài và đi đây đi đó suốt ngày trong thành phố !
Đó là chưa nói đến những trường hợp đau lòng, khi đứa trẻ phải “cách ly xã hội bắt buộc” không phải trong 14 ngày – mà đằng đẵng từ năm này qua năm khác – không phải vì sợ dịch Covid – mà sợ nếu cho trẻ bước ra ngoài, đến trung tâm can thiệp thì mang tiếng mình là người thế nào mới có một đứa con như vậy ! Còn cho con đến trường bình thường thì ba bảy 21 ngày là đưa con về, vì bạn bè không chịu chơi, không chịu nhường nhịn nó, và cô giáo cũng không ưu tiên chăm sóc nó, và cũng không chiu đựng được những hành vi bất thường của con, dù đã có gủi gắm ? – Mình đủ điều kiện nuôi con ở nhà, thuê hai ba cô giáo đến dạy con, trang bị cho con đủ loại đồ chơi hàng hiệu, có cả osin riêng để phục vụ, thì cần gì phải cho nó đi can thiệp cho vất vả ? – Đứa trẻ ở nhà, như một con chim trong cái lồng son , cho dù chưa có khả năng tự giao tiếp, nhưng nếu được hướng dẫn bằng thực hành trong môi trường xã hội thì có thể đạt được những giao tiếp cơ bản. Đã không được tương tác với các cảm xúc tích cực trong các hoạt động vui chơi với GV, với các trẻ khác , trẻ sẽ như một miếng bọt biển, hút tất cả những cảm xúc tiêu cực chung quanh trong cái “ lồng son vĩ đại” đó – Bữa nào bố mẹ vui vẻ, thoải mái thì con cũng bớt lo lắng, căng thẳng. Thế nhưng, cuộc sống gia đình thì làm sao tránh khỏi những lúc “cơm không lành, canh không ngọt” hay có khi , bố mẹ mang những áp lực, căng thẳng và phiền muộn từ cơ quan, công ty về nhà với một tinh thần mệt mỏi, khó chịu… Thì các cảm xúc đó sẽ lan tỏa trong gia đình, và đứa trẻ lãnh đủ mà bố mẹ không hề biết !
Đã có những trường hợp, một bạn VIP đi học vui vẻ, nhưng một hôm đến trường thì khóc la , cô giáo không thể dỗ dành. Khi hỏi ra thì hôm trước, bố mẹ cãi nhau làm cho trẻ hoảng sợ, nhưng trẻ không phản ứng ngay, mà đến hôm sau khi đến trường trẻ mới bộc lộ ra . Cũng có trường hợp, trẻ đang vui vẻ học ở nhà , thế rồi vào một ngày đẹp trời, khi cô giáo đến can thiệp như thường lệ, thì trẻ bùng nổ những hành vi tiêu cực, có khi la hét không sao kiểm soát được, mặc dù bình thường tre rất nghe lời cô. Đó chính là dấu hiệu cho thấy trẻ đã bị “nhiễm” sự lo lắng căng thẳng ngay tại gia đình minh, và chỉ có những hoạt động bên ngoài môi trường gia đình , trong một thời gian mới có khả năng “điều trị”, chứ không phải một vài buổi đi chơi, du lịch với gia đình là đã giải quyết được vấn đề.
Có thể nói, một bạn nhỏ có tình trạng tự kỷ nếu có được bố mẹ chấp nhận tình trạng của con, thống nhất với nhau trong việc can thiệp, coi trọng những phát triển về cảm xúc, đầu tư cho con nhận biết những kỹ năng cá nhân thiết yếu và thực tế trong cuộc sống hàng ngày, trước khi đặt ra mục tiêu biết đọc biết viết để đi học lớp một. Thì đó là một niềm vui cho các bạn ấy , chính niềm vui được là chính mình đó sẽ tạo niềm vui cho bố mẹ khi trẻ đã lớn lên, cho dù khả năng văn hóa có hạn chế, nhưng các kỹ năng cá nhân và khả năng tương tác xã hội đạt được những kết quả tốt, thì nó có thể giúp cho trẻ không phải là “hòa nhập” mà là biết “thích nghi “ với môi trường xung quanh, để từ đó – có một cuộc sống ổn định với tình trạng tự kỷ của mình.
Tại sao lại với tình trạng tự kỷ ? bởi vì cho đế nay, người ta vẫn phải chấp nhận là tình trạng rối loạn Phát triển lan tỏa – một tên gọi khác của chứng Tự kỷ , là một rối loạn không thể chữa lành ! Hãy thử hỏi phu huynh của các trẻ lớn – dù có can thiệp tốt đến đâu, thì khả năng thích nghi, linh hoạt với cuộc sống vẫn còn những hạn chế – các em không thể cư xử một cách hoàn toàn như một người bình thường – vì thể, trẻ tự kỷ khi lớn lên sẽ là người tự kỷ ! Chỉ có điều khác biệt là nếu được đầu tư về mặt cảm xúc – thì đó sẽ là một đứa trẻ tự kỷ thoải mái, vui vẻ và khi lớn lên sẽ là một người tự kỷ hạnh phúc . Đó không phải là mục đích của giáo dục hay sao ? Ngay cả một người bình thường, nếu thiếu kỹ năng sống cho dù có được giáo dục đầy đủ, thậm chí bằng cấp đầy người, cũng vẫn có những căng thẳng không thích nghi được với cuộc sống – có thể đi đến trầm cảm hay suy nhược thần kinh – rối loạn cảm xúc hưng trầm cảm – mà nhiều người gọi đó là “tự kỷ” – Trong khi đó, chính các trẻ Tự kỷ “chính hiệu” thì lại bị ép vào một cái khuôn – để phải bước chân vào ngưỡng cửa nhà trường đánh vật với chữ và nghĩa, với một “hy vọng hão huyền” của bố mẹ là biết đâu – nhờ môi trường bình thường xung quanh trẻ, các em sẽ “dần dần hồi phục” các em sẽ chơi với trẻ bình thường để trở nên bình thường – Điều đó có thể đúng với các trẻ không phải là tự kỷ nhưng bị “dán cho cái nhãn Tự kỷ” – điều đó có thể đạt đươc trong một số lĩnh vực nào đó. Nhưng có thể nói rằng, dù như thế nào thì trẻ Đặc biệt ( bao gồm Tự kỷ – tăng động kém chú ý và Chậm phát Triển ) vẫn không thể có khả năng “ quản lý cuộc đời” – Các em có thể không còn các vấn đề về ngôn ngữ, giao tiếp, hành vi … Thậm chí các em có thể là HS giỏi toán, giỏi tin học . Nhưng các em vẫn khó có thể có khả năng đối phó với những “ tráo trở” hay sự phức tạp về ứng xử trong cuộc sống đời thường – Các em luôn là những người “ thật như đếm” không hề biết nói dối mà không chớp mắt – không bao giơ là những kẻ “nói vậy mà không phải vậy” hay nói một đằng làm một nẻo ! Nhưng cũng chính vì điều đó, mà các em rất kém cỏi trong khả năng thích nghi với cuộc sống trong xã hội của những người “bình thường” .
Là bố mẹ, ai cũng mong con có cuộc sống hạnh phúc, an lành và có khả năng tự lo cho bản thân, vì vậy thay vì cứ mải miết chạy theo hy vọng “ hòa nhập” mà đem con đi “ chữa trị” với đủ kiểu can thiệp trên đời để mong con “trở lại bình thường” hay có khi lại xây cho mình cái ảo tưởng là con đang trở nên bình thường với những tiến bộ trong việc học, mà không để ý đến những cảm xúc tiêu cực của con trước áp lực của các phương pháp can thiệp nghiêm nhặt, mà phụ huynh quyết tâm đạt cho bằng được!
Phụ huynh cần thấy rằng, niềm vui mà con mong muốn, không ở đâu xa, đó chính là những cảm xúc tích cực mà mình dành cho đứa con yêu dấu ! Tuy nhiên điều nguy hiểm ở đây là đừng bao giờ phụ huynh “áp đặt và chiều chuộng” đứa con đặc biệt của mình ! Chiều chuộng là sự bao bọc, làm thay, đáp ứng mọi yêu cầu của trẻ kể cả các yêu cầu có phần quá đáng, vì nó là một đứa trẻ đáng thương ! nên “thôi kệ” , nhưng còn áp đặt thì sao? Chính các hình thức kỷ luật cứng nhắc trong kỹ thuật can thiệp cho trẻ là sự áp đặt, chính việc bắt trẻ bằng mọi cách phải quy phục mình, dù là để tập cho tre nói hay dạy cho trẻ học cũng là sự áp đặt. Thậm chí, nếu như trẻ không thể hay chưa thể bước vào ngôi trường, mà mình cứ nhất quyết phải “nhét” cho bằng được đứa con của mình vào vì nó đã nói được, đã viết được, làm toán được, biết trả lời, biết đặt câu hỏi … như một trẻ bình thường thì tại sao không cho nó đi hòa nhập ? Thậm chí là buổi sáng đi hòa nhập, buổi chiều đi can thiệp ! Buổi tối về mẹ “rèn con” ! Đó cũng là sự áp đặt – và một sự áp đặt tệ hại, chứ đừng cho rằng đó là một biện pháp hiệu quả.
Phải chăng chỉ có con đường hòa nhập, chỉ có con đường đến trường, khoác cho bằng được bộ đồng phục tiểu học, trung học với phù hiệu của trường ABC nào đó mới mục đích của đời con ? Không cho đi học, không có cái chữ lận lưng, làm sao con có thể tự sống được sau này ? Thực ra, không phải là con chữ mà là những kỹ năng cá nhân, sự khéo léo trong một lĩnh vực nào đó mới sẽ là điều giúp con và quan trọng là niềm vui , sự thoải mái trong cuộc sống, khả năng quản lý cảm xúc của con mới là mục đích mà bố mẹ cần vạch ra và cùng con đạt đến . Chắc chắn là cho đến khi lớn, trẻ vẫn cần có người hỗ trợ trong việc quản lý và tổ chức cuộc sống ! Vì vậy, đừng để trẻ phải quá căng thẳng, lo lắng , khủng hoảng vì chính sự lo lắng, mệt mỏi của chúng ta. Những người lớn, những bậc cha mẹ của trẻ Đặc Biệt, đừng nên cố gắng “Dạy con trong hoang mang” mà hãy với con “ sống vui cùng tự kỷ” !
CVTL Lê Khanh – TT GDĐB Diệp Quang An Giang.

Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, ngành giáo dục đặc biệt đã có những thành tựu đáng kể, số lượng và chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật từng bước nâng cao. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế cần được sớm giải quyết như: chưa thống nhất về số liệu trẻ khuyết tật, Luật người khuyết tật còn một vài điểm bất cập, việc thực thi luật còn thiếu đồng bộ, công tác đào tạo nguồn nhân lực thực hiện còn hạn chế. Nhằm khắc phục những hạn chế đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật trong những năm tiếp theo.
1. Đặt vấn đề
Ngành giáo dục đặc biệt Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây đã đạt được những thành tựu đáng kể. Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Đức Hữu – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học- đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ hai dưới sự phối hợp thực hiện của Trường Đại học Wakayama và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bài viết đã cung cấp cho người đọc những thông tin cơ bản, đầy đủ và toàn diện về thực trạng giáo dục trẻ khuyết tật (GDTKT) ở Việt Nam và những định hướng phát triển trong giai đoạn từ 2015 đến 2020. Trong đó, có thể thấy những thành tựu nổi bật như: quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng, hệ thống văn bản pháp lí nền tảng đã được ban hành, công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho giáo dục đặc biệt tiếp tục được duy trì và phát triển, công tác quản lí giáo dục trẻ khuyết tật ngày càng hiệu quả và công tác xã hội hóa giáo dục cũng đã có nhiều kết quả, đã xác định được phương thức GDHN là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật. Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra nhiều thách thức cho cho giáo dục đặc biệt ở Việt Nam như: nhận thức của xã hội về trẻ khuyết tật và tầm quan trọng của GDTKT chưa cao, hệ thống dịch vụ hỗ trợ chuyên môn còn yếu, chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế, đội ngũ làm việc trong các cơ sở giáo dục người khuyết tật và trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo về GDTKT còn thấp…
Bài viết này sẽ tập trung phân tích một số những thách thức nổi bật của công tác GDTKT. Trong đó, có những thách thức đã được nêu trong báo cáo của tác giả Nguyễn Đức Hữu và một số vấn đề khác từ chính góc nhìn của tác giả bài viết này. Từ đó, đưa ra một số biện pháp thúc đẩy giáo dục đặc biệt trong thời gian tới.
Giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam hiện nay chưa có được chương trình hành động mang tính chiến lược tổng thể và những giải pháp cụ thể, một trong những nguyên nhân chính là chưa có số liệu chính xác về số lượng người khuyết tật và số lượng trẻ khuyết tật trong độ tuổi từ 0 – 18 tuổi. Các thống kê của ngành Lao động thương binh và xã hội và ngành giáo dục có sự khác biệt nhau do tiêu chí xác định dạng khuyết tật, độ tuổi…
Theo số liệu của TS Nguyễn Quốc Anh – Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số năm 2010, ước tính ở Việt Nam có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật. Tỷ lệ các dạng khuyết tật ước tính là: khuyết tật vận động – 29%, khuyết tật tâm thần – 17%, khuyết tật thị giác – 14%, khuyết tật thính giác – 9%, khuyết tật ngôn ngữ – 7%, khuyết tật trí tuệ – 7% và 17% các dạng tật khác. Ước tính này so với thực tế còn nhiều mâu thuẫn. Chẳng hạn, theo thống kê của Phòng Kế hoạch Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP.HCM năm 2010, toàn thành phố có 42.324 người khuyết tật trong khi nếu tính theo tỷ lệ bình quân 6% người khuyết tật trên tổng dân số thì con số này phải cao hơn rất nhiều. Theo đó, nếu dân số TPHCM là 7.382.287 người (theo số liệu điều tra của tổng cục thống kê ngày 1/4/2010), toàn thành phố vào thời điểm đó phải có khoảng 442.937 người khuyết tật. Điều này cho thấy số liệu trẻ khuyết tật tại TP.HCM theo thống kê của Sở Lao động Thương Binh và Xã Hội TP.HCM còn khác biệt rất nhiều so với thực tế.
Ngược lại, nếu chỉ dựa trên số liệu ước tính thì cũng có thể sẽ đưa ra các chương trình hành động sai. Chẳng hạn, theo tỷ lệ ước tính của TS. Nguyễn Quốc Anh thì số lượng người mắc khuyết tật thị giác cao hơn rất nhiều so với các dạng khuyết tật khác. Và mặc dù, đây chỉ là tỷ lệ người khuyết tật theo các dạng tật chứ không phải theo độ tuổi, người ta vẫn suy ra rằng tỷ lệ trẻ khiếm thị nhiều hơn trẻ mắc các dạng khuyết tật khác, trong khi thực tế thì hoàn toàn ngược lại, các trường và chương trình giáo dục trẻ khiếm thị càng ngày càng giảm và các trường giáo dục chuyên biệt dành cho các dạng khuyết tật khác đặc biệt là trẻ khuyết tật trí tuệ và khuyết tật phát triển ngày càng tăng lên nhanh chóng.
Việc thiếu tin cậy trong thống kê số liệu người khuyết tật nói chung và số liệu trẻ khuyết tật trong độ tuổi đi học nói riêng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định các chính sách giáo dục cho trẻ khuyết tật nói riêng và người khuyết tật nói chung. Tất cả các hoạt động liên quan đến giáo dục trẻ khuyết tật đều có quan hệ mật thiết với việc xác định đúng số lượng trẻ khuyết tật, loại và mức độ khuyết tật của trẻ khuyết tật trong độ tuổi ở mỗi địa phương và trong cả nước. Con số này sẽ giúp ngành giáo dục và các ban ngành liên quan xác định được các loại hình và số lượng dịch vụ cần thiết cho người khuyết tật. Từ đó, hoạch định nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và tổ chức quản lý nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ khuyết tật.
Luật người khuyết tật ra đời năm 2010 khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với người khuyết tật và khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về người khuyết tật là rất tiến bộ. Đây là cơ sở quan trọng để người khuyết tật được hưởng các quyền lợi và thực hiện trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, Luật người khuyết tật ở một vài điểm vẫn chưa được quy định và trình bày rõ ràng, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các chế độ hỗ trợ, trong đó có các chương trình hành động liên quan đến giáo dục.
Chẳng hạn, điều 3 – khoản 1 của Luật có quy định về dạng khuyết tật bao gồm 6 dạng: (a) Khuyết tật vận động; (b) Khuyết tật nghe, nói; (c) Khuyết tật nhìn; (d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần; (đ) Khuyết tật trí tuệ; (e) Khuyết tật khác nhưng ở khoản 3, điều 50 quy định về trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp, Luật chỉ nhấn mạnh việc thống nhất về ngôn ngữ kí hiệu và chữ nổi Braille cho người khuyết tật nghe, nói và nhìn mà không làm rõ các dạng khuyết tật còn lại thì phương tiện hỗ trợ học tập như thế nào. Chẳng hạn, đối với khuyết tật vận động, việc phục hồi chức năng, vật lí trị liệu và sử dụng các thiết bị hỗ trợ vận động là hết sức cần thiết nhưng những quy định cụ thể và đặc thù cho loại khuyết tật này vẫn chưa được làm rõ, trong khi, theo rất nhiều nguồn thống kê khác nhau, tỷ lệ người khuyết tật vận động luôn chiếm tỷ lệ cao trong các dạng khuyết tật ở Việt Nam.
Mặc dù Luật người khuyết tật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, nhưng tốc độ thực thi rất chậm. Một số điều khoản quan trọng được người khuyết tật, gia đình người khuyết tật và xã hội đặc biệt quan tâm thì hầu như vẫn chưa được thực hiện một cách hệ thống và đồng bộ.
Chẳng hạn, điều 28, khoản 2 quy định rõ GDHN là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật. Điều 29, khoản 1 cũng nêu rõ – Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục người khuyết tật, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu giáo dục người khuyết tật. Và điều 30 cũng nêu rõ về trách nhiệm của cơ sở giáo dục người khuyết tật bao gồm: (1) – Bảo đảm các điều kiện dạy và học phù hợp đối với người khuyết tật, không được từ chối tiếp nhận người khuyết tật nhập học trái với quy định của pháp luật và (2) Thực hiện việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật nhưng tình hình thực tế lại không diễn ra như vậy.
Theo kết quả khảo sát năm 2011 của Nguyễn Thị Tường Vân trên 38 trường mầm non hòa nhập tại 9 quận/huyện của TP.HCM – địa phương được đánh giá là đang thực hiện tốt nhất công tác giáo dục trẻ khuyết tật so với cả nước thì hiện trạng giáo dục trẻ khuyết tật theo phương thức GDHN còn nhiều hạn chế. Có 6.8% giáo viên dạy hòa nhập ở bậc mầm non được đào tạo về giáo dục đặc biệt và 35.1% giáo viên đang dạy hòa nhập ở bậc mầm non được tham gia các lớp bồi dưỡng về GDHN ở các mức độ khác nhau từ 3-5 ngày. Có tới 51.9% giáo viên mầm non chưa được bồi dưỡng về GDHN nhưng đang tham gia dạy trẻ khuyết tật học hòa nhập. Số cán bộ quản lí được đào tạo/bồi dưỡng về giáo dục đặc biệt cũng rất ít, chỉ có 7.9% (3 người) có trình độ cử nhân giáo dục đặc biệt. Với thực tế như vậy thì có thể chưa đủ để đảm bảo các điều kiện để thực hiện GDHN cho học sinh khuyết tật như trong Luật quy định. Ở các trường chuyên biệt, số giáo viên đã qua đào tạo/bồi dưỡng chuyên ngành GDĐB đạt 67.73%, trong đó trình độ chuyên môn chủ yếu là cao đẳng GDĐB (65.9%) và 34.1% trình độ đại học.
Một thực tế cũng khá bất cập đó là việc thiếu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đối với giáo viên dạy trẻ khuyết tật. Hiện tại, các trường chuyên biệt vẫn phải áp dụng chuẩn giáo viên mầm non và phổ thông trong đánh giá năng lực giáo viên khuyết tật. Đây là một thực tế bất hợp lí, đi ngược lại với điều 50, khoản 1, mục đ của Luật người khuyết tật nêu rõ về “Quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, nhân viên chăm sóc người khuyết tật trong cơ sở chăm sóc người khuyết tật”
Hiện nay, đang có rất nhiều bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực GDTKT. Tại TP.HCM, địa phương được đánh giá là đơn vị đi đầu trong cả nước về chăm sóc và GDTKT, công tác này hiện cũng đang có nhiều vướng mắc. Bằng chứng là trong khi các nhà quản lí giáo dục kêu thiếu về nguồn nhân lực thực hiện GDHN thì sinh viên tốt nghiệp sư phạm giáo dục đặc biệt vẫn không thể tìm được một vị trí việc làm ở các trường mầm non và tiểu học công lập nơi có trẻ khuyết tật đang học hòa nhập. Mâu thuẫn này một phần do phần lớn sinh viên không có hộ khẩu thành phố nhưng nguyên nhân chính là do các trường công lập còn thiếu biên chế và vị trí việc làm cho giáo viên giáo dục đặc biệt. Ngoài ra, theo các nhà quản lí, còn có một nguyên nhân khác, đó là giáo viên giáo dục đặc biệt thiếu kiến thức và kỹ năng giáo dục nền tảng gắn với một bậc học nhất định. Chẳng hạn như, không thể dạy trẻ mầm non vì thiếu kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về giáo dục mầm non hay tương tự đối với các bậc học khác.
Ngoài ra, trong khi các trường không thể tuyển được giáo viên giáo dục đặc biệt thì tỷ lệ giáo viên đứng lớp dạy trẻ khuyết tật hòa nhập được bồi dưỡng và đào tạo về giáo dục đặc biệt nhìn chung còn rất thấp, đáng phải suy ngẫm như đã được nêu ra trong phần 2.3.
Những bất hợp lí này nếu không được khắc phục sớm sẽ là rào cản lớn cho việc triển khai thực hiện GDHN hiện nay nói riêng và việc đạt được các mục tiêu về giáo dục đặc biệt nói chung.
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội nên là đơn vị chủ trì trong việc điều tra tổng thể về người khuyết tật để có số liệu chính xác về người khuyết tật bao gồm: tổng số người khuyết tật và trẻ khuyết tật từ 0 – 18 tuổi trên phạm vi cả nước, tỷ lệ dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật… Trên cơ sở số liệu này, lập kế hoạch chiến lược trong vòng từ 5- 10 năm và kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn, trong đó, xác định các nguồn lực cần huy động và nhiệm vụ của các ngành, đơn vị liên quan. Kế hoạch này cần có sự tham gia của các ngành và cơ quan chức năng liên quan như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế. Từ đó, có thể ước tính được tổng chi phí cần cho việc thực hiện. Sau đó, căn cứ trên tổng kinh phí được duyệt chi, mà chọn các lĩnh vực, chương trình hành động ần ưu tiên thực hiện trước. Có như thế mới đảm bảo việc quy hoạch toàn diện cho GDTKT, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, chồng chéo, kém hiệu quả, trong khi kinh phí chỉ có hạn.
3.2. Bổ sung, điều chỉnh Luật người khuyết tật
Khi thích hợp, Luật người khuyết tật nên được bổ sung chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và quốc tế. Việc định danh thêm một số loại khuyết tật trong Luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thống kê số liệu về người khuyết tật, các chế độ chính sách hỗ trợ và quan trọng hơn hết là việc đạt quyền được hưởng giáo dục đặc biệt của tất cả những người khuyết tật. Hiện nay, khuyết tật học tập, trẻ rối loạn phổ tự kỉ, mù – điếc và đa tật là những dạng khuyết tật được xác định là có những đặc điểm riêng biệt cần đến những chương trình và các dịch vụ giáo dục đặc thù. Vì thế, việc định danh những dạng khuyết tật này trong luật sẽ là nền tảng cho những chương trình giáo dục tương ứng có chất lượng. Hiện nay, đạo luật khuyết tật ở Mỹ đã dịnh danh 13 loại khuyết tật cụ thể. Đây là một nguồn để tham khảo cho việc bổ sung, điều chỉnh của Luật người khuyết tật Việt Nam.
Bộ GD&ĐT cần có các chỉ thị cụ thể, toàn diện và kịp thời về quy trình thực hiện GDHN, đặc biệt nên sớm nghiên cứu ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên giáo dục đặc biệt, có quy định rõ ràng về vị trí việc làm của giáo viên giáo dục đặc biệt, sớm kiện toàn bộ máy quản lí giáo dục đặc biệt, sớm quy định về việc đưa học phần GDHN vào chương trình đào tạo của tất cả các ngành sư phạm của các trường sư phạm trong cả nước, đào tạo giáo viên GDHN theo bậc học và chuẩn bị các điều kiện thiết yếu khác cho các Trường hòa nhập và Trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN.
ThS. Hoàng Thị Nga
Khoa GDĐB, trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Quốc Anh (2013), thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật,
Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (6/2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, NXB Thống kê Hà Nội,
Nguyễn Thị Tường Vân (2013), Công tác quản lí đội ngũ giáo viên mầm non dạy trẻ khuyết tật hòa nhập tại Thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Giáo dục đặc biệt – Hướng tới tương lai, NXB trường ĐHSP TP.HCM, trang 76-89
Luật người khuyết tật (2010), Quốc hội Số: 51/2010/QH12.
http://idea.ed.gov/explore/view/p/,root,regs,300,A,300%252E8,c,

Sau khi đã phát hiện con có vấn đề về ngôn ngữ, giao tiếp, hành vi thì bố mẹ thường phân vân việc Test ( đánh giá ) trẻ . Đánh giá được xem là bước đầu cho việc can thiệp , nó bao gồm hai bước :
Đánh giá sàng lọc : Ở bước này, thì hầu như đa phần phụ huynh hay giáo viên, hoặc một nhân viên nào có hiểu biết về các dấu hiệu của tình trạng rối loạn phát triển ( Bao gồm Tự kỷ, tăng động kém chú ý và chậm phát triển trí tuệ ) đều có thể dùng các dấu hiệu sàng lọc để phát hiện tình trạng tự kỷ bằng bảng sàng lọc M- Chat. Hoạt động này không quá khó , miễn là chúng ta biết rõ các dấu hiệu quan trọng để nhận biết, chứ không phải là mới chỉ có vài dấu hiệu như chậm nói, hay xoay tròn, đi nhón gót, không tương tác mắt … là đã dán luôn cho cái mác tự kỷ . Nhưng có một thực tế là không chỉ có phụ huynh là còn mơ hồ về tình trạng của con mình, mà ngay cả một số nhà chuyên môn, hay giáo viên đặc biệt can thiệp trẻ tại các cơ sở, vẫn còn nhiều người không thể hay không dám đưa ra kết luận, dù chỉ mới ở bước sàng lọc là trẻ có tự kỷ, có tăng động hay có chậm phát triển hay không ? Dù điều đó được xem là sự hiểu biết tối thiểu để có thể là 1 giáo viên can thiệp cho trẻ chứ không nói là 1 chuyên viên .
Đánh giá mức độ : Sau bước sàng lọc, thì đối với phần lớn các chuyên viên, họ đều có thể đưa ra những đánh giá về mức độ nặng , nhẹ hay trung bình của trẻ để từ đó , có những định hướng cho trẻ trong việc xây dựng kế hoạch can thiệp ! Tuy nhiên cũng không thiếu các chuyên viên, giáo viên hay nhân viên Y tế, Tâm lý, Giáo dục – đặc biệt là ở các bệnh viện và các trung tâm có chức năng can thiệp cho trẻ, là họ ít khi nào có những nhận định đúng với tình trạng của trẻ, mà thông thường là sẽ dùng những thuật ngữ mơ hồ hay hiểu sao cũng được – cái thuật ngữ mà các Y bác sĩ hay dùng là cụm từ : Theo dõi tự kỷ – nó hàm ý là có dấu hiệu tự kỷ đó nhưng chưa dám xác định – cứ đem trẻ về, mang đi can thiệp cho yên tâm, còn ở mức độ nào thì ..biết chết liền ! Cái cụm từ khác mà các chuyên viên hay dùng là có dấu hiệu, hay có nét tự kỷ , có yếu tố tăng động … điều này thì không sai nhưng lại không xác định là trẻ tự kỷ có yếu tố tăng động hay trẻ tăng động có yếu tố tự kỷ ! Mới nghe qua thì thấy cũng thế, nhưng đi vào can thiệp thì sẽ thấy khác nhau ! Nếu là trẻ tự kỷ có yếu tố tăng động thì vấn đề chính của trẻ là khó khăn về giao tiếp và đó là mục tiêu chính yếu. Còn nếu là trẻ tăng động có yếu tố tự kỷ thì vấn đề lại nằm ở hành vi, và giảm thiểu hành vi tăng động sẽ là mục tiêu chính. Mọi thứ phải rõ ràng ở bước này.
Vì vây, việc đánh giá mức độ thường dễ bị bỏ qua , và điều đó sẽ gây khó khăn cho những bước kế tiếp trong tiến trình can thiệp ! Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu. Bước tiếp theo là khi phụ huynh muốn tìm cho con mình một cơ sở can thiệp tốt, có chất lượng, giáo viên có tâm, có tài, cơ sở vật chất cũng phải “vip” một chút. Đây mới là một cuộc “ Long trang hổ đấu” quyết liệt giữa các đơn vị !
Trước hết, đó là sự đấu tranh ngay tại gia đình – bố và mẹ sẽ mâu thuẫn nhau về việc đưa con đi can thiệp hay chưa cần, vì có khi ngay cả khi đã có những minh chứng rõ ràng về tình trạng của con – Đa phần là người bố vẫn không chấp nhận, họ tự an ủi mình là con chỉ chậm nói, chỉ nghịch ngợm quá mức, chỉ không chịu nghe lời và chỉ có vài hành vi không giống ai thôi. Ngay cả với người mẹ, cũng không dễ để có được sự chấp nhận về tình trạng và mức độ của con mình. Đến khi đưa con đi can thiệp, ngoại trừ các yếu tố như ở địa phương mình không có trường, trung tâm hay cơ sở can thiệp… thì các phụ huynh đành phải tìm các giáo viên đến can thiệp tại nhà hay đưa trẻ đến nhà cô với một vài trẻ khác. Còn phần lớn sẽ hỏi ý kiến các chuyên gia, hay đơn giản hơn là đưa mong muốn can thiệp của con lên FB, và thế là một đống các thông tin về một đơn vị nào đó được gửi đến PH. Cũng có PH tự mình lên mạng, tìm cơ sở cho con và bắt đầu rơi vào một môi trường “thập diện mai phục” của đủ mọi hình thức quảng cáo , mà chỉ đến khi cọ xát thực tế, mất đứt vài tháng, thậm chí cả năm cho con đi can thiệp mới nhận ra là những lời có cánh không phải là thực chất của đơn vị đó. Vậy làm thế nào để tìm cho mình một đơn vị tốt ? Ngoài yếu tố gần nhà ( đôi khi không có sự chọn lựa ) thì các yếu tố còn lại là gì ?
Cuối cùng , thế nào là một chương trình can thiệp tốt nhất mà các cơ sở có thể đem lại cho trẻ đặc biệt ! Đó chính là một chương trình phụ huynh hoàn toàn có thể nắm bắt và có thể phối hợp một cách tốt nhất tại gia đình. Cơ sở nào có đủ khả năng thuyết phục, dụ dỗ, lôi kéo và bắt buộc..không phải dành cho trẻ mà là dành cho phụ huynh để có thể hợp tác với mình, đó mới là một cơ sở tốt nhất. Nếu một cơ sở không đưa được chính phụ huynh của trẻ vào chương trình can thiệp bằng việc tác động, hướng dẫn, trao đổi, chia sẻ… để cho các ông bố, bà mẹ biết cách về nhà dành thời gian cho con, ít nhất mỗi ngày 1 giờ ngồi chơi với con . Nếu cơ sở không chia sẻ các thông tin về cách dạy trẻ, để yêu cầu bố mẹ cùng tham gia tác động mà lại yêu cầu bố mẹ không cần phải quan tâm đến việc cơ sở đang dạy trẻ các gì, đang đặt ra mục tiêu gì và thậm chí tuyên bố ( điều phụ huynh rất thích nghe ) là can thiệp ở cơ sở là đủ rồi, bố mẹ chỉ cần đóng tiền hàng tháng mà không cần phải làm gì cho con thêm ở nhà – Thì đó chính là một cơ sở giáo dục tệ nhất mà PH nên tránh xa, hơn là bị chinh phục bởi các phòng học trải thảm, gắn máy lạnh và không yêu cầu gì về phía mình. Còn chuyện tuyên bố là 3 tháng hay 6 tháng thì con sẽ nói được là một điều tối kỵ ( nhưng nhiều PH cũng..thích nghe lắm ) Điều này khác hẳn với các chương trình giáo dục dành cho trẻ bình thường, bởi vì các em là VIP mà . Đã là VIP thì phải luôn luôn được tôn trọng, yêu thương, thấu hiểu , cảm thông và ..chấp nhận ! Đến đây thì các PH đã có thể chọn được cho mình và con một đơn vị rồi chứ ? Nếu chưa – xin giới thiệu 1 cơ sở tốt nhất của mọi địa phương, mọi thời đại : Cơ sở đó có tên là Gia Đình !
Lê Khanh

Nói về tác giả Dale Carnegie với nghệ thuật Hướng dẫn con người thành công qua giao tiếp trong cuộc sống, và tác phẩm nổi tiếng : Đắc Nhân Tâm – một cuốn sách được dịch ra hàng chục thứ tiếng và phát hành hàng triệu bản trên thế giới thì chắc ai cũng biết. Phương pháp và sách của ông dựa trên một nguyên lý xưa như trái đất, từ Đông sang Tây đều biết : Tâm lý muốn được khen của con người ! và nguyên tắc giao tiếp ông giới thiệu để đem lại sự thành công cho cuốn sách chỉ là : Hãy tìm cách khen người – đừng chê bai chỉ trích ai hết và khi bất đắc dĩ phải chê thì nhận lỗi về mình trước đi, rồi hãy lựa lời mà nói sao cho người ta đừng mất lòng, không làm tổn thương tự ái của họ. Chỉ có nhiêu đó thôi mà không phải ai cũng áp dụng được , nên mới phải mua sách về đọc hoặc thám dự các khóa huấn luyện!
Đọc một bài viết của bác Tony Buổi sáng trên FB – người có nhiều bài bút ký dí dỏm và xác đáng về cách sống và cuộc sống, thì cũng như thế, nhưng bác ý lại cho rằng đặc tính thích được khen đó là của người Châu Á – vì thế, đừng dại mà tranh luận hơn thua với người da vàng mũi tẹt . Tony nhận xét cũng đúng luôn! Từ trong các lớp học cho đến các cơ quan đơn vị , thì cái tinh thần tranh luận để tìm ra điều hợp lý nhất hầu như không có ở Việt Nam. Nếu lướt một vòng trên FB thì chúng ta thấy ngay, những bài viết ít khi đưa đến sự tranh luận mà chủ yếu ai cũng tìm lời khen . Nếu có các yếu tố có thể dẫn đến tranh luận, thì ai cũng bảo vệ quan điểm của mình đến cùng, dù có khi rất áp đặt và ngụy biện, hoặc tìm cách cãi cho bằng được . Nếu cãi không lại thì một là nói ngang, cãi bướng, lý sự cùn hai là block luôn những người trái quan điểm với mình, chứ ít ai dám tự nhận là mình sai và càng hiếm người có thể xin lỗi công khai về những cái không đúng của mình.
Cái tâm lý thích được khen đó cũng thể hiện ra bằng những tấm hình “tự sướng” của những người đã đẹp và muốn đẹp – của những người thích khoe con và khoe các thứ tốt đẹp thuộc về mình – mọi người vào comment chỉ được quyền khen !không thì block ráng chịu ! Cũng như khi đưa ra một ý kiến và nhờ mọi người trả lời bằng câu hỏi : Đúng hay rất đúng ? không cho phép nói là sai !
… Nhưng đặc điểm thích khen đó đâu chỉ có ở người Á Châu . Bằng cớ là từ những năm 1912 – Dale Carnegie đã dựa vào cái tính thích được khen của người Tây Phương ( cụ thể là người Mỹ ) để mở đầu cho một hệ thống các khóa học cách lấy lòng người bằng tiếng khen, nổi tiếng cho đến nay.
Vì thế, cho nên phải tập ..khen và cũng chỉ nên đưa ra lời khen ! Nhưng nếu chỉ là khen nịnh, khen láo, khen theo định hướng và khen những điều không đáng kể, hoặc tìm cách thổi phồng lên để khen thì có khi bị hố hàng và có thể bị chửi sấp mặt hoặc bị vạch mặt là một hình thức tuyên truyền , quảng cáo không hơn không kém. Có nhiều quảng cáo trên TV thiếu tư duy, đã đưa ra những clip quảng cáo đẩy sản phẩm lên chín tầng mây mà không thấy được sự vô duyên của mình – Quảng cáo nước mắm mà gắn với hương sắc của một người đẹp duyên dáng thì quả thực là ngào ngạt luôn ! Chính tác giả sách “ Đắc nhân Tâm” cũng dặn dò : Những phương pháp này ( Lấy lòng người qua sự khen ngợi ) chỉ có kết quả khi nó được áp dụng một cách chân thành, xuất phát từ đáy lòng mà ra ! Hay nói cách khác là phải biết khen đúng – khen đủ và khen thực lòng !
Trong việc nuôi dạy con cũng thế ! Trẻ con cũng thích được khen , nếu được khen đúng và được bố mẹ cám ơn về những hoạt động trong công việc nhà, thì sẽ trở nên tự tin và mạnh dạn hơn. Có nhiều phụ huynh thì chỉ thích chê, và còn đem những điểm yếu của con ra so sánh với những đứa trẻ khác . Con lười học thì đem ra so với cái thằng giỏi nhất lớp, con ăn nói có phần vô duyên thì so sánh với cái đứa vô cùng lễ độ, chưa thấy mặt đã nghe tiếng chào ! Họ nghĩ rằng, nói như thế để con biết xấu hổ, biết tự ái mà cố gắng lên ! Thực ra Rất ít trẻ có được cái ý chí , biết chấp nhận cái sai để quyết tâm khắc phục . Điều này thường chỉ có ở những người đã trưởng thành. Sự trưởng thành ở đây không đo bằng tuổi tác, không phải cứ hễ có râu là thành trưởng lão. Bởi vì không thiếu gì người đầu hai thứ tóc mà cư xử giống như đứa trẻ ranh , dễ hờn giận, nhiều tự ái, cố chấp và không có ý chí tiến thủ ! Ngay cả khi người ta đã chỉ đúng những cái sai, cái yếu và cái thiếu của mình cũng vẫn không chấp nhận , có khi lại đổ thừa cho hoàn cảnh ! Đó vừa là tâm lý chung ( thích được khen – không thích chê ) nhưng cũng cho thấy sự chưa trưởng thành về nhân cách.
Vì vậy, bố mẹ nên tìm cách khen con, nhưng phải khen cho đúng những điều tốt mà trẻ làm được trong các hoạt động tại gia đình. Có thể chỉ là những điều đối với người lớn thì rất nhỏ nhặt, nhưng với đứa trẻ thì đó đã là một cố gắng to lớn. Cũng còn phải biết cách chê đúng – chê đúng là không chỉ trích cá nhân đứa trẻ, không hạ thấp lòng tự trọng của nó, không dán nhãn tiêu cực lên trán: mày là đứa lười biếng, là kẻ vụng về, là thằng nói láo ! Hãy chỉ ra những hậu quả do hành động sai lầm của trẻ thôi, và khích lệ trẻ cố gắng làm tốt hơn. Giáo dục con bằng sự tử tế tôn trọng và nghiêm khắc, chứ không bằng sự áp đặt và cưng chiều. Biết nhìn nhận những giá trị của người khác và khen ngợi một cách thực lòng, không xu nịnh lấy lòng, không dùng lối khen xã giao để mua chuộc cảm tình, đó mới gọi là người trưởng thành.
Lê Khanh

“Đồ chơi là từ vựng và chơi là ngôn ngữ của trẻ con.”
Chơi là một trong những cách thức can thiệp cho trẻ tự kỷ từ 3 -12. giáo viên hoặc phụ huynh nên tạo cơ hội và dành thời gian chơi cùng trẻ trong những căn phòng có các công cụ khác nhau để hỗ trợ các em về mặt vận động , hành vi, học tập và giải trí .
Đối với trẻ tự kỷ việc chơi chẳng dễ chút nào. Nhiều phụ huynh bỏ cuộc vì điều kiện kinh tế eo hẹp, không gian có giới hạn, nhất là phải vật lộn kiếm sống. Nói chung, chơi với trẻ tự kỷ đòi hỏi người dẫn dắt phải có sự nhẫn nại và bền chí, hiểu rõ và chấp nhận cách chơi của các em qua từng giai đoạn khác nhau. So với các trẻ bình thường và cùng độ tuổi, cách chơi của trẻ tự kỷ thường đơn điệu, thiếu sự nhập vai và diễn đạt có ý nghĩa, bởi đa số thường bị cuốn hút vào những vật thể không phải là đồ chơi, và nếu có chơi thì đó chỉ là sự mê mẩn, tự kích với vài bộ phận của một số đồ chơi nào đó, chẳng hạn thích tháo rời bánh xe, quay vòng chong chóng của máy bay …
Mình nhớ, khi vip còn nhỏ, có nhiều ngày mình và con vào những cửa hàng nổi tiếng ở Quận Cam, California, để mua sắm thật nhiều đồ chơi theo sở thích của nó. Về nhà, vợ mình tuy mừng ra mặt vì con bắt đầu biết nói và biết chơi, nhưng lại trách mình phí tiền, mua nhiều loại đồ chơi vô bổ, có thể gây hại đến sức khỏe của con..
A, có lần mình cho con chơi một mình và ra ngoài hút thuốc, lúc trở lại mình thấy thằng bé đang nhai ngon lành mấy chiếc xe nhựa. Sợ quá, mình vội lấy tay moi từng mảnh vụn từ miệng nó, rồi quyết định vất hết những thứ rẻ tiền, made in China ấy vào thùng rác. Kể ra, đó cũng là bài học đầu đời của mình khi dạy con chơi, và nhờ vậy, từ đó mình cẩn thận, biết chọn lựa những loại đồ chơi an toàn, lúc nào cũng kề cạnh và quan sát cẩn thận.
Đương nhiên, chơi với trẻ tự kỷ là giúp các em phát triển kỹ năng vận động thô và vận động tinh kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp xã hội, biết suy nghĩ và giải quyết vấn đề trong sinh hoạt, học tập. Tuy nhiên, nhiều trẻ tự kỷ có khả năng chơi rất hạn chế, chỉ chơi và chơi hoài với vài thứ quen thuộc, hoặc chơi có tính cách lặp đi lặp lại, không có chủ đích . Cho nên, các chuyên gia cho rằng điều quan trọng nhất chính là giáo viên, phụ huynh phải hiểu kiểu chơi, cách chơi như thế nào cho phù hợp với khả năng hiện tại của con em
Kiểu chơi với trẻ tự kỷ rất đa dạng, tùy vào từng giai đoạn phát triển và bao gồm:
1) Kiểu chơi dựa vào cảm giác : đừng nản lòng khi thấy trẻ trải nghiệm cảm giác bằng cách nhìn chăm chăm, nhặt lên rồi nếm, ngửi, ném xuống đất. Vật thể gây sự chú tâm cho trẻ tự kỷ không chỉ là đồ chơi, mà còn là bất cứ những gì trẻ tìm thấy quanh mình.
2) Kiểu chơi tìm hiểu Trẻ tự kỷ muốn khám phá sự khác lạ của vật thể trên sàn. Ví dụ, trẻ thích bức tóc búp bế, xé nát gấu bông, nhai liếm xe, tầu lửa. Ở giai đoạn nầy, trẻ tự kỷ bắt đầu muốn khám phá sự khác biệt về mầu sắc, hình thể, kích cở của vật thể, và cách hay nhất là phụ huynh nên tạo cơ hội cho trẻ tự kỷ khám phá nhiều điều mới lạ hơn.
3) Kiểu chơi có tác động khi sờ chạm Một số đồ chơi có thể áp dụng để dạy trẻ tự kỷ biết hành động như thế nào để tạo nên kết quả trẻ mong muốn. Chẳng hạn, trẻ ấn nút thì tầu lửa sẽ rú lên và chạy, hoặc trẻ đè mạnh tay thì hình thú trong hộp sẽ trồi lên, hay trẻ dùng miệng thổi thì bong bóng nước sẽ bay ra Kiểu chơi nầy dạy trẻ biết hành động và làm chủ tình huống. Người dẫn dắt cần hướng dẫn trẻ điều khiển hay tác động vật thể bằng cách khuyến khích, khen ngợi sự hợp tác của trẻ, rồi dựa vào đó để dạy trẻ biết đòi hỏi sự giúp đỡ hay chờ đợi đến lượt mình. Ví dụ, người lớn làm mẫu một trò chơi, rồi dừng lại, nói trẻ bắt chước làm theo.
4) Kiểu chơi có chủ đích Chơi có chủ đích đòi hỏi trẻ phải chơi đúng với ý nghĩa của đồ chơi. Ví dụ: Trẻ tự kỷ đập phone giả xuống sàn thay vì áp phone vào tai vờ nghe alô, hay cắn nát banh nhựa thay vì đá và rượt đuổi. Nếu trẻ tự kỷ chưa biết chơi có chủ đích thì cách hay nhất là người dẫn dắt nên ngồi đối diện, cho trẻ những đồ chơi trẻ thích, và nhập cuộc. Nếu trẻ thích quay vòng bánh xe, hãy lấy chiếc khác lật lại và đẩy chạy trên sàn, miệng giả tiếng “brrm, brrm” để gây sự phấn khích cho trẻ. Nếu trẻ không tỏ ra thích thú hay bắt chước thì lấy tay trẻ đặt lên xe, đẩy đi và nói: “Nè, đẩy xe nè! Xe chạy rồi! Giỏi, giỏi quá!”
Ghi chú: Trẻ tự kỷ phải biết cách chơi có chủ đích và đúng với ý nghĩa của đồ chơi trước khi bước vào những kiểu chơi mới, phứt tạp hơn.
5) Kiểu chơi có tính cách xây dựng Đây là giai đoạn trẻ biết lắp ráp hình ảnh, hình khối hoặc tô mầu, vẽ tranh. Nhiều em tỏ ra có năng khiếu và yêu thích những hoạt động nầy .. Khả năng chơi xây dựng càng cao thì nguy cơ bị khuyết tật trí tuệ đi kèm của trẻ tự kỷ càng thấp. Kiểu chơi nầy có thể là thước đo trí tuệ đáng tin cậy.
Mình nhớ, khi vip được 3 tuổi rưỡi, nhờ vào sự quan sát và biết vip có sở thích ráp hình, xây hình khối trên sàn nên mỗi ngày mình cố gắng dạy vip mầu sắc, số đếm bằng xe, tầu lửa, rồi dạy vip đọc và nhận dạng những từ vựng đơn giản, rồi ráp thành câu bằng những hộp chữ có sẵn khuôn và hình ảnh đi kèm. Mình khá thành công qua lối chơi nầy với vip.
6) Kiểu chơi đòi hỏi sự vận động chân tay Lên xuống cầu thang, chạy nhảy, đi xe đạp, chơi đùa ngoài trời như ném banh, xích đu, cầu tuột có thể giúp trẻ phát triển cơ bắp lớn.
7) Kiểu chơi giả vờ : Cho gấu bông ăn, cỡi ngựa, lái xe, mặc áo quần đóng vai người hùng, làm cảnh sát, thủy thủ là những trò chơi cần sự nhập vai và giàu tưởng tượng . Khác với những trẻ bình thường, chơi giả vờ là kiểu chơi khó nhất đối với trẻ tự kỷ.
Tuy nhiên, người hướng dẫn có thể dùng hình ảnh và phân đoạn trò chơi thành từng bước nhỏ dễ hiểu để dạy trẻ tự kỷ phát triển thêm những kỹ năng ngôn ngữ, giao tiếp xã hội.
8) Kiểu chơi giao tiếp xã hội Việc tạo điều kiện, khuyến khích trẻ tự kỷ hợp tác và chơi theo từng nhóm nhỏ là điều rất khó thực hiện, bởi vì trẻ tự kỷ có khuynh hướng chơi một mình hoặc chơi song hàng nhưng không nhập cuộc . Điều nầy có thành công hay không còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của người dẫn dắt, nhất là khả năng giao tiếp, thích hòa đồng của con em.
9) Kiểu chơi có tính cách chia sẻ . Trẻ em đưới 3 tuổi chưa biết chia sẻ đồ chơi cho nhau . Các giáo viên có thể tập cho trẻ biết nhường nhịn và chờ đợi đến lượt mình bằng những trò chơi đánh đu, cầu tuột, đi xe đạp và chuyển đổi kiểu xe cho nhau.
10) Kiểu chơi có tính cách hợp tác và tuân theo qui luật Cách chơi nầy đòi hỏi trẻ tự kỷ phải có sự phát triển về khả năng ngôn ngữ .Ở trường, các trẻ tự kỷ gặp nhiều trở ngại khi cùng nhau xây các tòa nhà cát , chơi trốn tìm, cùng nhau nhặt bi, sỏi mầu. Trẻ hầu như không biết cách chơi này, cần phải dựa trên sở thích để dạy con hiểu luật lệ, biết chờ đợi đến lượt mình, chấp nhận thắng và thua không cay cú. ..
Việc hỗ trợ để trẻ biết Chơi đòi hỏi sự kiên trì, kể cả sự tốn kém, và mất thời gian. Việc chọn lọc công cụ , quan tâm đến sự an toàn, biết dựa vào sở thích cá biệt của trẻ, từ đó tạo nên hứng khởi qua những hoạt động hằng ngày ở gia đình là những yếu tố cần thiết giúp trẻ tự kỷ chơi mà học, học mà chơi có hiệu quả nhất.
DANANG HO ( Phụ huynh trẻ Tự kỷ )







Hôm nay là ngày 2/4/2020 – Ngày được thế giới chọn là ngày Nhận Thức về Tự Kỷ . Với góc độ tâm lý, xin không nói lại những kiến thức về Tự Kỷ – mà rất nhiều cá nhân, đơn vị, đoàn thế đã đề cập – đã nhắc lại trong ngày hôm nay.
Chỉ bàn về hai chữ “Nhận Thức” – là sự hiểu biết có ý thức về tự kỷ ! Tự kỷ là rối loạn phát triển, là khó khăn về giao tiếp, ngôn ngữ , hành vi…. Ai cũng biết ! Nhưng vẫn có 2 nhóm người chưa biết đúng – nhóm thứ nhất là các ông bố, bà mẹ của trẻ tự kỷ . Tuy rằng có nhiều phụ huynh còn giỏi hơn các nhà chuyên môn về việc nhận ra những vấn đề hay triệu chứng của con , nhưng có nhiều người vẫn chưa thể hay chưa muốn chấp nhận điều nhận biết đó với hai tâm thế : Một là cứ nhất quyết con mình là tự kỷ khi mới chỉ căn cứ vào một vài dấu hiệu nào đó dựa vào các thông tin trong sách vở và trên mạng ! Một là cứ nhất quyết con mình không phải tự kỷ, dù ở trẻ đã có gần đủ các yếu tố cần thiết về tình trạng này.
Nhưng dù cho rằng biết hay chưa muốn biết, thì họ vẫn mơ hồ về hai điều : Liệu con mình có trở lại bình thường hay không ? và tương lai con mình như thế nào ?! Để rồi từ đó họ gần như “lao đầu vào một cuộc chiến mà không biết mình đang chống lại cái gì, bằng cách nào và với công cụ gì ! Có nhiều người quyết tâm sống chết với cái nhãn Tự kỷ – họ tự phong hay được phong là chiến binh tự kỷ , họ hô hào mọi người, họ hăm hở học tập, họ hăng hái dạy con hết phương pháp này đến kỹ thuật khác, họ hồ hởi nói lên sự tiến bộ của con hàng ngày, hàng tuần, tưởng chừng như cái đích “ thoát tự kỷ” và “hội nhập xã hội bình thường” đã gần lắm rồi. Nhưng trên thực tế thì sao ? Câu trả lời xin để dành cho các phụ huynh tự ngẫm !
Như vậy, phải chăng là trẻ không thể trở lại trạng thái bình thường sao ? Như vậy tương lai con tôi là dấu chấm hết khi đã là một trẻ tự kỷ hay sao ? Nếu nhìn trên bình diện cuộc sống thì có vẻ là như vậy, khi mà dù có can thiệp đến mức nào đi nữa, thì trẻ cũng chỉ có thể bình thường ở một vài phương diện, thậm chí là xuất sắc , nhưng vẫn còn nhiều lĩnh vực – nhất là lĩnh vực giao tiếp xã hội thì vẫn còn rất yếu kém. Thế nhưng, nếu ta nhìn rộng ra một chút – thì đâu phải chỉ có trẻ Tự kỷ là yếu kém trong ngôn ngữ, trong giao tiếp xã hội, mà có rất nhiều đứa trẻ khác, kể cả các thanh thiếu niên và người lớn, cũng rất vụng về, lúng túng trong giao tiếp, rất dở về khoa ăn nói và rất dễ làm cho người khác khó chịu về cái tật “ nói thẳng – nói thật” hay “cố chấp” của mình – Bởi vậy, nếu lấy cái chuẩn là khả năng ngôn ngữ lưu loát – thì khối người sẽ được gọi là tự kỷ ! Thế mà, những người đó hầu như lại được người xung quanh chấp nhận, dù cũng khá phiền lòng, nhất là khi họ là người thân của các đấng “gàn bát sách” này. Nhưng họ cũng có thể thông cảm được mà ! Thế nhưng, bố mẹ của trẻ tự kỷ và cả những người xung quanh thì lại không chấp nhận một đứa trẻ ăn nói dở hơi , không chịu học hành cho nghiêm túc. Họ phải rèn bằng mọi cách – và đối xử với lòng thương hại hoặc tệ hơn là bằng sự kỳ thị . Chính vì sự kỳ thị đó nên mới có ngày dành cho trẻ tự kỷ, chứ không có ngày dành cho trẻ dở hơi !
Còn nói về tương lai cho trẻ tự kỷ, quả thật là trẻ tự kỷ và khi lớn hơn là người tự kỷ, rất khó mà có một cái gọi là tương lai sáng sủa như những người bình thường ! À, thế nhưng một đứa trẻ bình thường, học hành tử tế, liệu có được một tương lai sáng sủa hay không ? Ai dám nói chắc ? Thậm chí, có khi học giỏi, tốt nghiệp đại học ra đàng hoàng, cũng có dám nói là sẽ có nắm chắc tương lai sáng sủa trong bàn tay hay không?
Tại sao phụ huynh lại quá lo lắng cho tương lai của đứa con tự kỷ khi mà ngay chính một đứa con bình thường, chúng ta vẫ chưa dám chắc là nó sẽ có một tương lai tốt đẹp ! Chính vì cái lo lắng cho một điều không thể lo lắng ấy, mà chúng ta đang ôm vào lòng rất nhiều sự lo lắng và cũng làm cho đứa con tự kỷ đáng yêu của mình cũng lo lắng..lây và đau khổ thay, nó lại không thể hỏi hay nói ra được!
Có một thực tế đáng buồn là bố mẹ các trẻ tự kỷ ở mức độ nhẹ, thường tỏ ra ngần ngại khi cho con can thiệp ở một cơ sở có các trẻ tự kỷ hay tăng động kém chú ý có mức độ nặng hơn . Họ cho rằng, con họ có thể bị lây nhiễm các hành vi phá phách, bất ổn của các trẻ này. Rõ ràng là trẻ ở mức nhẹ và nặng không thể học chung trong một nhóm, nhưng thực ra, việc phân chia mức độ nặng nhẹ, là để cho việc xây dựng mục tiêu can thiệp cho hợp lý, và để đảm bảo cho mỗi trẻ đều có được những biện pháp thích hợp, chứ không phải là e sợ sự lây lan, bắt chước hành vi của nhau sẽ làm cho việc can thiệp khó khăn hơn, hay trẻ sẽ bị ..nặng hơn vì chuyện bắt chước đó. Đúng là trẻ có thể bị nặng hơn, căng thẳng hơn nhưng không phải vì bắt chước trẻ khác, mà là do trẻ bị lây niễm cái bầu khí lo âu, căng thẳng, mệt mỏi của những người xung quanh, đặc biệt là với người mẹ trong gia đình và người với giáo viên trực tiếp can thiệp cho trẻ nếu họ thường xuyên dạy trẻ bằng sự thờ ơ, khó chịu, mệt mỏi và vô tâm!
Vì thế nếu trẻ bị thay đổi môi trường chăm sóc, thay đổi người giáo viên, người bảo mẫu đã gần gũi, đã chăm sóc và thiết lập được mối tương tác yêu thương, gắn bó với trẻ. Khi đó trẻ sẽ rất khó chịu, rất căng thẳng, dễ gây hấn, bùng nổ, hoặc trẻ cũng rất khó tiến bộ nếu cứ phải chịu đựng tình trạng lo âu, mệt mỏi, thiếu sự quan tâm của bố mẹ trong gia đình . Thế nhưng, đó có phải là đặc điểm của trẻ ViP không? Hãy thử xem như chúng ta, nếu phải xa cách người yêu, nếu phải thay đổi nơi cư trú, nếu cứ phải ở bên cạnh một người vô tâm, hay lo lắng, càu nhàu khó chịu, liệu chúng ta có sốc không ? Có lo lắng, có đau khổ không ? có bực mình dể nổi nóng không? Chỉ khác chăng, là chúng ta nhận biết được điều đó, và cũng có thể nói ra được điều đó và tìm cách xử lý – còn trẻ tự kỷ thì chưa thể, chưa biết bộc lộ, tỏ bầy và bé lo lắng, căng thẳng vì cái điều chưa biết tỏ bầy đó thôi.
Nếu soi cho kỹ, xét cho cùng thì tình trạng rối loạn ngôn ngữ, hành vi, nhận thức và khó khăn trong giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ đúng là một vấn đề cần phải giải quyết, nhưng không thể chỉ giải quyết bằng các phương pháp “chất lượng cao” mà còn phải kèm theo đó là cách ứng xử phù hợp – nhưng đó cũng là một tình trạng mà chúng ta phải chấp nhận, hay nói đúng hơn là biết cách ứng xử cho phù hợp. Như vậy, có thể nói nhận biết về chứng tự kỷ không chỉ là biết về các triệu chứng, dấu hiệu mà phải là một thái độ chấp nhận và không kỳ thị về những hành vi không bình thường của trẻ tự kỷ – vì trong một chừng mực, đó là chuyện bình thường giống như phản ứng, thái độ của bất cứ đứa trẻ nào khi rơi vào các hoàn cảnh như thế.
! Chúng ta có thể chia sẻ, phổ biến cả trăm dấu hiệu về Tự kỷ để cho mọi người nhận biết, nhưng nếu chưa thuyết phục được chính các Phụ huynh, các nhà chuyên môn và các thành phần trong xã hội, qua sự trao đổi, chia sẻ, trình bầy để họ có thể xem các hành vi, các phản ứng, các cách ứng xử của trẻ tự kỷ là bình thường thì công việc truyền thông của chúng ta là vô ích. Hiểu về tự kỷ không có nghĩa là đeo lên người một logo, treo trên tường FB của mình một dấu hiệu màu xanh… mà chính là thái độ tôn trọng và chấp nhận các trẻ tự kỷ, các người có tình trạng tự kỷ, có được một chỗ đứng trong xã hội !
Các chứng trầm cảm, rối nhiễu tâm lý, hay các bệnh tâm thể ở trẻ nếu được trị liệu tâm lý đúng cách sẽ bình phục với thời gian – Nhưng với chứng tự kỷ, nó không chỉ là một tình trạng rối nhiễu tâm lý hay một căn bệnh có thể chữa khỏi dù lâu hay nhanh. Nó cũng không phải là một khuyết tật không thể điều trị, không có thuốc chữa , mà Tự kỷ cần được xem là một phong cách, một tính chất và chỉ có thể cải thiện qua mối tương giao hai chiều với sự chấp nhận, cảm thông và tôn trọng lẫn nhau. Các phương pháp can thiệp về ngôn ngữ và hành vi là điều cần thiết nhưng chưa đủ, nếu chúng ta cứ tập trung vào việc điều chỉnh và uốn nắn các triệu chứng, mà không tạo cho các em niềm vui được sống và hoạt động trong một môi trường phù hợp với sự thấu hiểu và yêu thương ngay với các biểu hiệu, hành vi mà ta gọi là bất thường. Đó mới là giá trị đích thực nếu chúng ta đã hiểu về Tự kỷ.
Sài Gòn mùa Covid 19