Hoạt động vui chơi ở trẻ em (1)
Tháng Mười Hai 8, 2011
Hoạt động vui chơi ở trẻ em (3)
Tháng Mười Hai 8, 2011
Hiển thị tất cả

Các nhà tâm lý và giáo dục học nghiên cứu về trẻ em đã đưa ra những lý thuyết về hoạt động vui chơi của trẻ em, đó cũng là những lý thuyết quan trọng về sự phát triển tâm lý và nhận thức của trẻ.


Phần II : Các lý thuyết đương đại về chơi


1. Lý thuyết Phát triển nhận thức (Cognitive development theory) của Jean Piaget

Piaget cho rằng trẻ em là những người học đầy năng động và tự động. Bản thân trẻ em có tính tò mò tự nhiên đối với thế giới xung quanh chúng. Chúng luôn năng nổ tìm kiếm thông tin để có thể lý giải và hiểu về thế giới đó. Chúng thường trải nghiệm những vật thể mà chúng tình cờ gặp phải, khám phá và quan sát những hệ quả từ những hành vi của chúng. Khi trẻ chơi, đó chính là lúc trẻ khám phá thế giới qua những tính chất và cấu trúc của đồ vật và qua những hành vi tác động lên đồ vật đó.

Quá trình học tập của trẻ có tính cơ cấu và tính cá thể. Đứa trẻ năng động tìm tòi thông tin và kết nối các thông tin theo cách riêng của chúng để lý giải về môi trường sống xung quanh. Piaget dùng thuật ngữ “sơ cấu” (Scheme) để giải thích tính cơ cấu trong quá trình học tập của trẻ. Sơ cấu là một cách nói trừu tượng về một dạng cấu trúc nhận thức đơn giản trẻ có được nhờ những hành vi phản xạ tự phát ban đầu. Khi các kích thích quen thuộc xuất hiện thường xuyên, các phản xạ tự phát dần dần có chọn lọc, sơ cấu càng được củng cố và trở thành kiểu hành vi có thể lập đi lập lại khi trẻ nhận biết kích thích quen thuộc tác động. Piaget cho rằng trẻ luôn sử dụng lập đi lập lại các sơ cấu mới đạt được trong các tình huống tương tự và mới mẻ. Quá trình lập lại các sơ cấu đó giúp đứa trẻ chọn lọc các hành vi và kết hợp chúng lại. Các sơ cấu được tổ chức và kết nối với nhau dựa trên quá trình tư duy thao tác logic này trở thành các “thao tác” (Operations). Lý thuyết này được chứng thực khi ta quan sát trẻ chơi. Khi chơi, trẻ thao tác lập đi lập lại nhiều lần trên một vật và thử chơi bằng nhiều cách khác nhau với đồ chơi đó, cho tới khi chọn được cách chơi tương ứng với chức năng của đồ vật đó, và kết hợp chơi giữa đồ vật đó với đồ vật khác. Trẻ đập, quăng chiếc xe nhiều lần trước khi biết đẩy xe chạy và cho hình người lên xe.

Theo Piaget, Những sơ cấu càng phát triển cho phép đứa trẻ càng thích nghi hơn với với môi trường sống. Sự phát triển của các sơ cấu dựa trên hai cơ chế: đồng hoá (assimilation) và điều ứng (accommodation). Quá trình đồng hoá giúp mở rộng các sơ cấu với những đối tượng mới có tính chất tương đồng với những đối tượng đã biết, quá trình điều tiết giúp mở rộng các sơ cấu với những đối tượng mới có tính chất mới chưa hề biết. Ví dụ, trẻ biết kẹo là vật nhỏ, có màu, bỏ vào miệng ăn thì ngọt; trẻ thấy nút áo cũng là vật nhỏ, có màu, nên bỏ vào miệng ăn; đây là quá trình đồng hoá. Trẻ ngậm nút áo không thấy ngọt, và người lớn bắt nhè ra, dần dần, trẻ biết thêm có vật mới là nút áo, nhỏ, có màu, không ngọt, không phải kẹo và không được ăn; đây là quá trình điều tiết. Cả hai quá trình này liên kết với nhau chặt chẽ trong suốt quá trình phát triển hiểu biết và kiến thức về thế giới xung quanh của đứa trẻ.


Piaget cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ tuỳ thuộc vào sự phát triển thành thục của hệ thần kinh qua các độ tuổi khác nhau. Đối với trẻ từ 0-6 tuổi, Piaget chia làm hai giai đoạn phát triển nhận thức:

–          Giai đoạn giác động (Sensorimotor stage) từ khi sinh đến 2 tuổi: Đặc trưng của giai đoạn này là trẻ chỉ có thể nhận biết và tư duy về những gì cụ thể đang thấy, đang làm trước mắt. Trẻ có những trải nghiệm thử và sai (Trial and error experimentation) qua việc lập đi lập lại cách chơi với vật để khám phá những tính chất của đồ vật. Trẻ lăn tròn trái banh, cái ống, cái lục lạc và nhận ra trái banh thì lăn đi, cái ống thì cuộn tròn, cái lục lạc thì phát tiếng. Các thử nghiệm dần dần phát triển thành hành vi có mục đích trực tiếp, những hành vi chủ ý làm để đạt được điều gì đó. Trẻ có thể biết đi về phía trái banh, nhặt trái banh lên. Trẻ hiểu được sự bất biến của vật, dù vật không có trước mắt, trẻ có thể tìm thấy vật. Trẻ thích chơi ú oà, trốn tìm, tìm vật bị giấu. Cuối giai đoạn này, trẻ phát triển tư duy biểu tượng, tượng trưng vật này bằng vật khác. Trẻ cầm khối gỗ nói “a-lô” như máy điện thoại. Khả năng này là dấu hiệu ban đầu giúp trẻ tư duy trừu tượng sau này.


–          Giai đoạn tiền thao tác (Preoperational stage) từ 2-6 tuổi: Khả năng tư duy biểu tượng phát triển mạnh mẽ giúp trẻ có thể tư duy và nói về những trải nghiệm thân cận là đặc trưng của giai đoạn này. Khả năng ngôn ngữ phát triển nhanh chóng cả về từ vựng và cấu trúc câu. Trẻ có thể nghe và hiểu truyện kể có hình ảnh minh hoạ, trẻ thích chơi biểu tượng như vẽ tranh, nặn tượng, … Trẻ thường chơi giả vờ, gán cho đồ vật những chức năng, vai trò nhất định trong bối cảnh giả định. Trẻ chơi nấu ăn trên chiếc lá, múc cơm cho búp bê ăn,… Tuy nhiên, ở giai đoạn này, tư duy của trẻ không theo logic hợp lý thông thường của người lớn. Trẻ đưa ra các câu trả lời theo cảm tính, chứ không suy luận hợp lý. Trẻ có thể cho ly cao ốm thì chứa nhiều nước hơn ly thấp to chỉ vì thấy mực nước ly kia cao hơn. Đến cuối giai đoạn này, trẻ mới dần phát triển tư duy trên các nguyên tắc logic được thấy trực tiếp, bắt đầu cho sự phát triển của giai đoạn thao tác cụ thể (Concrete operations stage) từ 6 đến 12 tuổi.

Lý thuyết của Piaget có tác động sâu sắc đến các nhà ứng dụng tâm lý và nhà giáo dục trẻ em. Lý thuyết này ủng hộ việc cung cấp những cơ hội cho trẻ trải nghiệm về vật thể cũng như các hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống. Mà trong đó, hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất cho trẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng, thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ.

 


2. Lý thuyết Văn hoá xã hội (Sociocultural theory) của Lev Vygotsky

Lý thuyết về văn hoá xã hội do Lev Vygotsky khởi xướng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của yếu tố xã hội và văn hoá tác động lên sự phát triển nhận thức của trẻ em. Hai yếu tố này tác động thông qua sự tương tác của trẻ với đồ vật và với người lớn. Nói cách khác, chính đồ vật và người lớn mà trẻ tương tác luôn mang dấu ấn của nền văn hoá và bản chất xã hội trên mình. Thông qua những tương tác chính thức hay không chính thức, người lớn truyền đạt thông tin cho trẻ theo nhiều cách mà văn hoá của họ đã lý giải về thế giới. Khi trẻ chơi, trẻ học cách sử dụng đồ vật theo chức năng mà cả xã hội và nền văn hóa xung quanh nó qui định.

Nghiên cứu của Vygotsky về hoạt chơi hay trò chơi như là một hiện tượng tâm lý có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Thông qua hoạt động chơi, trẻ phát triển ý nghĩa trừu tượng về vật, phân biệt vật này với vật khác, trong sự phát triển của chức năng thần kinh cao hơn. Chơi như là sự diễn giải trong sự tưởng tượng những ham muốn không thực hiện được ngoài cuộc sống. Đứa trẻ chơi nấu ăn với búp bê vì lòng ham muốn làm giống mẹ nó đã chăm sóc nó. Trẻ có thể dùng cái gối làm em bé, cái nắp làm cái tô, cây que là cái muỗng – những đồ vật đó có tính tượng trưng cho em bé thật và đồ nấu ăn thật mà bé chưa thể sử dụng thành thục được. Qua những hoạt động chơi này, trẻ học được ý nghĩa của từng đồ vật có tính tượng trưng đó và chuyển hoá sang đồ vật thật. Trẻ càng lớn càng hiểu tính tượng trưng của đồ vật và càng hiểu tính giả bộ của hoạt động chơi, trẻ có thể nói: “lấy cây gậy này làm con ngựa để chơi”.

Vygotsky nhấn mạnh hoạt động chơi giúp trẻ phát triển các kỹ năng xã hội. Khi trẻ chơi với búp bê và căn nhà đồ chơi, trẻ đang học về vai trò khác nhau của các thành viên trong gia đình. Khi hai chị em chơi với nhau, vai trò chị và em được lộ rõ hơn là những hành vi trong cuộc sống thường ngày. Những tương tác với người khác khi chơi, giúp trẻ học được các quy luật xã hội, dần dần giúp trẻ tự điều chỉnh bản thân. Ví như một đứa trẻ đứng ngay vạch xuất phát chạy đua với những đứa trẻ khác, đứa trẻ nào cũng muốn phóng chạy ngay, nhưng quy định xã hội giúp trẻ phải chờ đợi có dấu hiệu xuất phát mới được chạy.

Những giai đoạn phát triển của trẻ được Vygotsky phân chia theo kỹ năng tư duy và lý luận. Trong đó, khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ từ sớm phụ thuộc vào sự tương tác với người lớn trong tất cả các hoạt động, đặc biệt là hoạt động chơi.

Các nhà tâm lý phát triển lý thuyết của Vygotsky cho rằng hoạt động chơi của trẻ chuẩn bị cho chúng cuộc sống trưởng thành bằng việc luyện tập các hành vi giống như người lớn.

 

3. Lý thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud

Freud cho rằng nhiều trò chơi của trẻ là cách chuyển hoá của xung lực tính dục bị người lớn kiềm chế. Đối với cha mẹ, anh chị, trẻ có một tình cảm hai chiều trái ngược nhau, vừa yêu mến, kính phục, vừa ghen ghét, căm giận. Tâm trí trẻ chưa đủ sức hóa giải mâu thuẫn giữa hai tình cảm ấy, nên được “trá hình” vào trong những hoạt động chơi. Trong những hoạt động chơi đó, trẻ ôm ấp nâng niu đồ chơi, hay trút giận, đập phá đồ chơi đều là cách giải tỏa những cảm xúc mâu thuẫn nội tại không thể diễn đạt.

Freud là người đầu tiên dùng hoạt động chơi như một liệu pháp chữa các chứng rối nhiễu tâm lý ở trẻ em. Trong hoạt động chơi đó, đứa trẻ được tự do giải phóng nội tâm nhiều uẩn ức, lo hãi, huyễn tưởng trên các đồ chơi. Ông chia các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ dựa theo các biểu tượng gây khoái cảm cho trẻ trong giai đoạn đó.

Erik Erikson, đại diện tiêu biểu cho lý thuyết Phân tâm Cách tân, phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ dựa trên những chủ đề xung đột, mà thông qua những xung đột đó trẻ hình thành cái Tôi hài hòa với thế giới xung quanh.

–     Từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi là giai đoạn xung đột giữa sự tin tưởng và không tin tưởng (trust vs. mistrust). Trẻ cần sự quan tâm chăm sóc để đạt được sự tin tưởng vào con người và thế giới xung quanh. Niềm tin này được xây dựng ẩn tàng trong những tiếp xúc xã hội với cha mẹ, những hoạt động chơi giúp các giác quan, chức năng vận động, tri giác thêm phát triển.

–     Từ 15 tháng tuổi đến 3 tuổi là giai đoạn xung đột giữa ước muốn tự làm lấy và sự xấu hổ, nghi ngờ khả năng của mình. Trẻ phát triển ý muốn tự làm lấy trong nhiều hoạt động nhưng thường lại không thành công. Sự tự tin và khả năng độc lập của trẻ phát triển nếu trẻ được cho phép tự làm lấy và hoàn tất trong vui vẻ; ngược lại, trẻ sẽ mang mặc cảm xấu hổ, nghi ngờ bản thân khi không được tự làm và thường bị quát mắng khi làm sai. Các hoạt động chơi lúc này cho phép trẻ có thể tự làm lấy nhiều hoạt động trong tình huống giả định, mà đời thật có thể trẻ không tự làm thành công: ví dụ trẻ đút cháo cho búp bê ăn. Các hoạt động chơi trong giai đoạn này cho trẻ cơ hội để thành công, giải toả xung đột.

–          Từ 3 đến 6 tuổi là giai đoạn xung đột giữa ý muốn tự ý (initiative) và cảm giác có tội (guilt). Giai đoạn này, trẻ có khả năng tự hoạt động và nảy sinh nhiều ý muốn tự ý nhưng luôn phải tuân thủ những giới hạn và qui tắc của xã hội. Trẻ phải đạt được sự cân bằng lành mạnh giữa ý muốn tự ý lựa chọn những điều trong khuôn phép, chứ không bị ép buột hoặc từ chối cảm giác có tội khi lựa chọn những điều không được phép. Các hoạt động chơi tưởng tượng giúp trẻ giải toả xung đột này, trẻ tưởng tượng những tình huống giả định, trong đó những qui luật trở nên được chấp nhận dễ dàng, không gò ép ý chí lựa chọn tự do.

Có thể nói, lý thuyết Phân tâm cho rằng chơi là hoạt động gây phấn chấn, cho phép đứa trẻ làm chủ những tình huống khó khăn. Trẻ sử dụng những tình huống tưởng tượng để đóng vai người lớn, lấy cảm giác làm chủ trong hoạt động chơi mà sao chép trong tình huống thật. Thông qua hoạt động chơi, trẻ có thể tái hiện những sự kiện đau đớn, những xung đột của cá nhân, làm chủ nỗi đau đó bằng cách giải toả nó trong tình huống tưởng tượng.

( Còn tiếp )

 

Comments

comments

Lê Khanh
Lê Khanh
Chuyên gia tâm lý