Một cái nhìn về Rối Nhiễu Tâm lý
Tháng Hai 9, 2016
Tình trạng Rối nhiễu Tâm lý ở trẻ em
Tháng Hai 9, 2016
Hiển thị tất cả

Tự kỷ là một trình trạng rối loạn về giao tiếp – ứng xử – hành vi có rất nhiều biện pháp can thiệp trị liệu khác nhau . Dưới đây là một vài phương pháp trị liệu cho trẻ tự kỷ được áp dụng tại Hoa Kỳ. Chúng tôi lược thuật để chia sẻ cho các bậc phụ huynh có thêm một số kiến thức trên bước đường đồng hành cùng con.

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÀNH VI  (Applied Behavior Analysis or ABA)

Vào những năm cuối thập niên 60 và 70, Tiến Sỹ Ole Ivar Lovaas (1927-2010), một chuyên gia tâm lý thuộc trường phái Skinner, là người đầu tiên khởi xướng phương pháp phân tích và trị liệu hành vi (ABA/DTT) cho chứng tự kỷ tại Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles).

B.F. Skinner (1904-1990) là một giáo sư tâm lý học nổi tiếng ở Hoa Kỳ.  Đầu tiên, Lovaas ứng dụng những phương pháp phân tích hành vi của Skinner vào những trẻ tự kỷ ở dạng nặng và khá thành công trong việc ngăn ngừa hay giảm thiểu những hành động tự gây thương tích (self-inflicted injuries) của trẻ tự kỷ.  Hứng khởi với những thành quả ban đầu, Lovaas và những học trò đã cùng nhau thực hiện một chương trình giảng dạy dựa vào phương pháp phân đoạn, lặp lại, đơn giản và rõ ràng gọi là Discrete Trial Training (DTT).

Tên gọi :

  • Phương pháp Lovaas (the Lovaas method).
  • Sự can thiệp tích cực sớm về hành vi (Early Intensive Behavioral Intervention or EIBI).
  • Sự giảng dạy có phân đoạn rõ ràng (Discrete Trial Training or DTT).
  • Sự can thiệp có tính lặp lại và đơn giản (Discrete Trial Intervention or DTI).

Mục tiêu:

1) Dạy kỹ năng (teaching skills): Chú trọng đến những kỹ năng cần đạt được của trẻ tự kỷ bằng cách phân chia hay soạn thảo những kỹ năng đó thành nhiều đoạn nhỏ hay bài học ngắn để giảng dạy. Ví dụ, để dạy trẻ tự kỷ về nói và ngôn ngữ, các chuyên viên ABA thường tiến hành những bước sau:

  • Dạy trẻ ngồi yên, mắt nhìn thẳng.
  • Dạy trẻ biết phân biệt âm giọng, sử dụng từ ngữ để liên tưởng đến vật thể.
  • Dạy trẻ biết dùng hình ảnh đúng với vật thể.
  • Dạy trẻ biết bắt chước những động tác của người lớn.
  • Dạy trẻ biết nối kết từ ngữ thành những câu đơn giản như “con muốn ăn cơm”.

2) Loại bỏ những hành vi không thích hợp (eliminating interfering behaviors): Mục đích của ABA là loại bỏ những hành vi có tác động tiêu cực, ngăn trở sự học tập, gây khó khăn trong giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ ở nhà trường và ở những môi trường sinh hoạt khác, chẳng hạn trẻ tự kỷ chỉ thích, chơi một mình, không chăm chú, không hợp tác, chống đối, lên cơn, trốn chạy, hay những hành động tự kích (self-stimulated) như thích nhìn đèn điện, xoay vần vật thể, nhún mình v.v…

Để tìm hiểu vì sao trẻ tự kỷ có những hành vi tiêu cực trên, các chuyên viên ABA phân tích những hiệu năng thuộc về hành vi (functional behavior analysis) bằng cách thu thập dữ kiện về những hành vi đó, gọi là sự phân tích ABC.

Phân Tích Hành Vi ABC

  • Nguyên nhân hay chuyện gì xảy ra trước (antecedent or A).
  • Hành vi gây ra bởi nguyên nhân hay lý do nào đó (behavior or B).
  • Hậu quả hay chuyện gì xảy ra sau khi trẻ hành động như vậy (consequence or C).

Trong những buổi học đầu tiên, các chuyên viên ABA ứng dụng phương pháp phân đoạn, lặp đi, lặp lại, đơn giản và rõ ràng (Discrete Trial Training or DTT) bằng cách soạn thảo những câu hỏi cho công việc đòi hỏi trẻ phải thực hiện hay trả lời.  Ví dụ, người giảng dạy ra lệnh cho trẻ vừa bằng lời, vừa bằng dấu hiệu (Discriminative Stimulus or SD) như vỗ tay, sờ trán, sờ tai.  Nếu trẻ chưa trả lời vì phân vân hay rối trí, người giảng dạy cầm tay trẻ, giúp trẻ thực hiện những động tác nầy.  Dần dần, khi trẻ quen với hiệu lịnh và thực hiện được những đòi hỏi đơn giản trên, sự nhắc nhở sẽ giảm đi và sự đòi hỏi khác sẽ được thêm vào như vừa vỗ tay, vừa dậm chân, sờ mũi, trán, tay.  Sau mỗi hành động trẻ thực hiện được, chuyên viên hướng dẫn sẽ ngợi khen bằng lời nói hay tưởng thưởng trẻ bằng bánh kẹo hay những gì trẻ thích, cho giải lao trong chốc lát rồi đưa trẻ trở về lại với những động tác đã được huấn luyện.  Theo thời gian, sự đòi hỏi hay công việc trẻ phải thực hiện sẽ gia tăng nhiều hơn và thời gian giải lao có thể kéo dài để tránh tình trạng căng thẳng cho trẻ.

Cùng với sự quan sát những lần trẻ thực hiện qua sự hướng dẫn của chuyên viên, số lần đúng và sai được ghi nhận.  Dữ kiện nầy sẽ giúp cho các chuyên viên có quyết định tiếp tục những bài học cũ hay chuyển sang những phần đoạn hay những bài học mới.  Chính vì vậy, ABA được gọi là phương pháp giảng dạy dựa vào dữ kiện có tính khách quan và khoa học.

Vào năm 1987, Lovaas và đồng sự có viết báo cáo về kết quả nghiên cứu của phương pháp phân tích, ứng dụng trị liệu hành vi, gọi là ABA của 38 trẻ tự kỷ bao gồm các  trẻ nhỏ hơn 40 tháng tuổi (3 tuổi 4 tháng) nếu trẻ chưa nói được.  Nhỏ hơn 46 tháng (3 tuổi 10 tháng) nếu trẻ nói được, nhưng thường lặp đi, lặp lại như vẹt.

Các em được chia làm 2 nhóm:

1)   Nhóm được nhiều thời gian trị liệu gồm 19 trẻ, nhận được 40 tiếng trị liệu 1 tuần trong thời gian tối thiểu là 2 năm, dưới sự hướng dẫn của một chuyên viên cho một trẻ tự kỷ.

2)  Nhóm được ít thời gian thử nghiệm trị liệu gồm 19 trẻ, nhận  được 10 tiếng trị liệu mỗi tuần cũng trong thời gian 2 năm và cũng với tỷ lệ một đối một.

Trước khi sự trị liệu bắt đầu, 38 trẻ tự kỷ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm về khả năng trí tuệ và thích ứng với đời sống (pre-test).  2 năm sau, chương trình trị liệu chấm dứt, 38 trẻ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm lại (post-test).

Kết quả đạt được : 47% hay 9 trong số 19 trẻ tự kỷ thuộc nhóm được nhiều thời gian trị liệu, có khả năng trí tuệ tiến bộ đến mức bình thường, có thể theo học ở các lớp dành cho trẻ không bị khuyết tật và không cần đến sự can thiệp của chương trình giáo dục đặc biệt ở nhà trường.  Ngược lại, chỉ có 1 trong 19 đứa trẻ thuộc nhóm được ít thời gian trị liệu, 10 tiếng một tuần, đạt được khả năng trí tuệ trung bình. Như vậy số lượng 10 tiếng trị liệu trong 1 tuần thật sự không đủ để giúp trẻ tự kỷ tiến bộ đến mức trung bình. Theo Lovaas và đồng sự, trẻ tự kỷ phải cần số lượng 40 tiếng trị liệu trong 1 tuần mới có thể đạt được khả năng trí tuệ của một đứa trẻ bình thường. Nói cách khác, số lượng 40 tiếng 1 tuần, theo nghiên cứu của Lovaas, là điều kiện để trẻ tự kỷ đạt được những mục tiêu sau:

  • Biết vâng lời, chăm chú qua hiệu lịnh.
  • Biết bắt chước và ứng dụng những điều học được trong những tình huống khác nhau.
  • Biết nhận hiểu và diễn đạt ngôn ngữ.
  • Biết hội nhập, chơi và học với bạn bè khuyết tật (disabled) hay không khuyết tật (non-disabled) khác.

Lồng vào những mục đích trên là sự rèn luyện những kỹ năng, kiến thức căn bản để chuẩn bị vào trường như trao dồi từ vựng, phân biệt hình thể, mầu sắc, số đếm, mẫu tự, cũng như khả năng xử dụng ngôn từ có chủ đích.

Ở giai đoạn đầu của ABA, các chuyên viên ABA thường huấn luyện phụ huynh những căn bản cần thiết để họ giúp đỡ thêm cho trẻ ở gia đình và khuyến khích phụ huynh trở thành những thành viên thuộc nhóm trị liệu.  Vào những giai đoạn sau, chương trình trị liệu nhắm vào sự diễn đạt ngôn ngữ có tính trừu tượng, dạy trẻ biết học bằng sự quan sát, bắt chước và biết bày tỏ xúc cảm một cách thích hợp.

Tâm lý chung, những chuyên gia tự kỷ, kể cả Lovaas, thường tán tụng một cách quá đáng về những thành quả họ đạt được qua phương pháp trị liệu tự kỷ do họ đề xướng và ứng dụng. Và lắm lúc, họ thiếu trung thực khi nói về sự chậm tiến của trẻ tự kỷ.

Không phải trẻ tự kỷ nào cũng tiến bộ nhanh chóng qua bất cứ phương pháp trị liệu nào, kể cả ABA.  Mặc dù ABA được công nhận là phương pháp trị liệu tự kỷ có tính khoa học và hữu hiệu, những nghiên cứu độc lập của các chuyên gia tự kỷ sau nầy cho thấy rằng kết quả của ABA chưa thể nào lặp lại hay đạt được những thành quả như Lovaas và đồng sự đã từng công bố ở UCLA vào năm 1987.

Trọng tâm của ABA chính là sự ứng dụng phương pháp giảng dạy được soạn thảo riêng và phân đoạn đơn giản, rõ ràng, có tính lặp đi, lặp lại, gọi là ABA/DTT.

PHƯƠNG PHÁP DISCRETE TRIAL TRAINING ( DTT)

Phương pháp nầy có thể ứng dụng ở nhà , ở trung tâm  ở trường , hoặc ở một địa điểm yên tịnh nào đó, tùy vào điều kiện, giờ giấc sinh hoạt của gia đình và nhu cầu của trẻ tự kỷ.

Trong số các phương pháp trị liệu tự kỷ đang được ứng dụng, Discrete Trial Training (DTT) được nhiều chuyên gia nổi tiếng ở Hoa Kỳ công nhận là có tính tích cực và khoa học nhất trong sự giảng dạy nhằm thay đổi hành vi tiêu cực, rèn luyện những kỹ năng cần thiết và theo dõi sự tiến bộ của trẻ tự kỷ qua từng chặng thời gian.

Trong mỗi lần giảng dạy, DTT bao gồm 6 bước căn bản như sau:

1)      Giảng viên phải thu hút sự chú ý của trẻ.

2)      Giảng viên phải dùng hiệu lịnh đơn giản bằng lời hay bằng cử động chân tay

Ví dụ, muốn dạy trẻ rửa tay, rửa mặt, chuyên viên có thể thực hiện những thao tác nầy với trẻ tự kỷ ở bồn rửa mặt, dưới vòi nước chảy.

3)      Giảng viên phải nhắc nhở nếu trẻ chưa thực hiện đúng với hiệu lịnh.  Sự nhắc nhở của giảng viên có thể :

a) bằng lời

b) bằng sự phụ giúp cử động thân mình, chân tay của trẻ

c) bằng điệu bộ

d) bằng sự di chuyển vật thể gần với vị trí của trẻ.

Sự nhắc nhở sẽ giảm dần và không còn được ứng dụng khi trẻ dần quen và thực hiện những yêu cầu đúng theo hiệu lịnh của chuyên viên.

4)      Giảng viên phải tạo cơ hội cho trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh để gây cho trẻ sự hứng thú và sự tự tin để tiếp tục học tập.

5)      Giảng viên chủ động về sự khen thưởng mỗi khi trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh.  Sự khen thưởng thường xuyên sẽ tạo nên sự phấn khởi, thúc đẩy trẻ hợp tác tích cực hơn trong quá trình học tập.  Những câu trả lời sai thường được lờ đi, nhưng sẽ được lặp lại nhiều hơn trong những lần giảng dạy kế tiếp cho đến khi trẻ hiểu và trả lời một cách chính xác.

6)      Giảng viên thâu thập dữ kiện về số lần trả lời hay thực hiện đúng, sai của trẻ để tổng kết, đo lường mức độ tiến bộ của trẻ về kỹ năng nào đó.

Cũng như nhiều phương pháp trị liệu tự kỷ khác, ABA/DTT có lắm kẻ khen, người chê.  Điều nầy chứng tỏ rằng ABA/DTT chưa phải là phương pháp duy nhất, hữu hiệu nhất dành cho trẻ tự kỷ. Có khi sự ứng dụng hay áp đặt quá nhiều giờ ABA/DTT sẽ khiến trẻ xuống sức, mệt mỏi, chán chường,  trở nên cáu kỉnh, chống đối bất thường với mọi người chung quanh.  Một đứa trẻ bị ép buộc, thúc đẩy học tập ngoài khả năng của mình có thể trở nên hung hăng và tìm cách trốn chạy khỏi lớp học là chuyện rất thường tình.  Bị động trong những tình huống đó, phụ huynh chỉ còn cách thay đổi giờ giấc, giảm thiểu giờ học hay tìm một phương pháp trị liệu khác thích hợp hơn cho con em mình.

Vì Sao Trẻ Tự Kỷ Chậm Tiến Bộ?

  • Trẻ không hứng thú thực hiện những đòi hỏi của giảng viên. Điều nầy đòi hỏi giảng viên phải gia tăng sự khen thưởng nhiều hơn để gây sự lôi cuốn và hấp dẫn cho trẻ.
  • Dạy ở trình độ quá cao và trẻ thiếu căn bản ngay từ đầu.  Ví dụ, dạy trẻ chơi nhưng trẻ chưa được dạy trò chơi phải chơi và tiếp cận với bạn bè như thế nào.
  • Không khai thác được mặt mạnh, mặt yếu của trẻ.  Ví dụ, trẻ có khả năng học bằng mắt hơn là nghe thì những hình ảnh là những công cụ giúp trẻ hiểu bài nhanh nhất.
  • Một số trẻ tự kỷ bị chậm trí hay trẻ bị hội chứng Rett (Rett Disorder) hoặc chứng rối loạn thoái hóa (Childhood Disintegrative Disorder) thường có mức độ tiến bộ chậm về ngôn ngữ và khả năng giao tiếp xã hội.  Sự thích nghi và bổ xung trong chương trình giảng dạy thường đòi hỏi sự áp dụng hình ảnh, hạn chế khẩu lịnh, đặt nặng về kỹ năng tự giúp  và khả năng thích nghi với đời sống nhất là sự khen thưởng phải được gia tăng thường xuyên hơn.

Vì Sao Trẻ Tự Kỷ Chống Đối?

Thái độ chống đối, bất hợp tác (noncompliance or uncooperative behavior) như lên cơn, nằm vạ thường xảy ra ở giai đoạn đầu, khi trẻ còn xa lạ với ABA/DTT.  Trẻ tự kỷ có thể hiểu rằng sự chống đối, bất hợp tác là cách giúp chúng thoát khỏi sự đòi hỏi phải thực hiện một công việc nào đó của giảng viên.  Dần dần, không sớm thì muộn, trẻ biết sẽ được khen thưởng nếu hợp tác, thực hiện công việc theo lời hay động tác của giảng viên.  Tuy nhiên, nếu sự chống đối, bất hợp tác xảy ra vào những giai đoạn sau thì điều nầy chứng tỏ rằng chương trình giảng dạy cần phải được xem xét lại để có những bổ xung hay cải biến thích hợp hơn.  Đó chính là vai trò của những chuyên viên tư vấn hay những chuyên viên có nhiều kinh nghiệm về giáo dục trẻ tự kỷ phải suy nghĩ và tham gia cùng với phụ huynh để soạn thảo những kế hoạch nhằm giải quyết vấn đề nầy.

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VỀ NÓI/NGÔN NGỮ

Sự truyền đạt ngôn ngữ là hành vi người ta dùng âm giọng hay tiếng nói để thu hút sự chú ý của người khác.  Không phải bất cứ sự truyền đạt ngôn ngữ nào cũng có chủ đích.  Một đứa trẻ tự kỷ đứng chơi một mình và nói vào khoảng không một cách lặp đi, lặp lại như “kẹo, kẹo, kẹo, kẹo” là không có chủ đích.  Ngược lại, nếu trẻ đó lại gần, nhìn chúng ta và nói, “kẹo, ăn kẹo” thì đó chính là sự truyền đạt ngôn ngữ có chủ đích và lôi cuốn được sự chú ý của chúng ta.

Tất cả trẻ tự kỷ phải cần đến sự trị liệu ngôn ngữ để biết cách sử dụng ngôn từ trong giao tiếp xã hội nhằm giúp trẻ :

  • Biết chờ đến lượt mình trong đối thoại,
  • biết nói nhỏ tiếng,
  • biết nhìn người đối thoại,
  • biết không thay đổi hay chuyển đề tài đột ngột,
  • biết khoảng cách đứng, ngồi đối diện giữa trẻ và người khác một cách thích hợp,
  • biết nhận hiểu những ý nghĩ và phản ứng của người khác khi nói hay xúc phạm điều gì đó,
  • biết theo đúng nề nếp căn bản của xã hội.

Phương Pháp Truyền Đạt Ngôn Ngữ Không Dùng Lời   (Augmentative and Alternative or ACC)

Trẻ tự kỷ thường chậm nói.  Phụ huynh có con em tự kỷ hay than thở và hỏi rằng chừng nào trẻ mới nói được.  Thật khó trả lời.

Nhiều chuyên gia cho rằng, ngoại trừ trẻ ở dạng tự kỷ Asperger, mặt mạnh hay ưu điểm của trẻ thuộc dạng rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder) và trẻ thuộc dạng rối loạn phát triển không phân định rõ (PDD-NOS) chính là sự quan sát, học hỏi bằng hình ảnh hơn là bằng lời nói (verbal learning).

Tiến Sỹ Matt Tincani, chuyên gia ABA và là giáo sư giảng dạy trong chương trình giáo dục đặc biệt ở Đại Học Temple, Philadelphia, Pennsylvania, gợi ý rằng chừng 50% trẻ tự kỷ không thể dùng lời có chủ đích trong vấn đề truyền đạt ngôn ngữ.  Tuy nhiên, bằng sự giảng dạy, ứng dụng phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời (AAC), trẻ tự kỷ có thể xử dụng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa hơn.

Những phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời :

  • Phương pháp hay hệ thống giáo dục bằng hình ảnh (picture-based systems).
  • Phương pháp dùng ngôn ngữ bằng dấu hiệu (sign language).
  • Phương pháp dùng trợ cụ phát tiếng (voice-output devices).

Mục đích chính của AAC là giúp đỡ trẻ tự kỷ học nói qua hình ảnh, dấu hiệu và trợ cụ, nhất là giúp đỡ trẻ tự kỷ có khó khăn về vận động môi, miệng lưỡi (oral-motor apraxia).

HỆ THỐNG TRAO ĐỔI NGÔN NGỮ BẰNG HÌNH ẢNH   (Picture Exchange Communication System or PECS)

Những năm gần đây, hệ thống trao đổi sự truyền đạt ngôn ngữ bằng hình ảnh thay lời nói đã không ngừng cải biến để giúp trẻ tự kỷ phát triển khả năng truyền đạt về ngôn ngữ.

Hệ thống PECS được chủ xướng và phát động bởi Tiến Sỹ Andy Boudy và Lori A. Frost. Những chuyên gia về ngôn ngữ nầy cho rằng trẻ tự kỷ thường có lối suy nghĩ qua hình ảnh và vì vậy, trẻ tự kỷ có khả năng học bằng mắt hơn bằng tai nghe.

Hệ thống truyền đạt ngôn ngữ (PECS) ứng dụng những phương pháp ABA/DTT của Lovaas để dạy trẻ biết trao đổi hình ảnh cho những điều chúng muốn bày tỏ, nhưng không thể dùng lời.  Ví dụ, trẻ đưa hình có ly nước cho người lớn với ý thay lời rằng trẻ đang khát nước.

Vài chuyên gia tự kỷ cho rằng PECS chỉ có hiệu quả đối với trẻ tự kỷ chưa biết xử dụng ngôn từ có chủ đích hay khả năng ngôn ngữ đang ở mức độ phát triển chậm, hoặc trẻ chưa thể nói được. Nhiều phụ huynh không muốn con mình học tập theo phương pháp nầy.  Họ sợ trẻ sẽ trở nên lười nói, chỉ muốn xử dụng hình ảnh hay nhấn nút để truyền đạt ý muốn.  Điều nầy chưa hẳn đúng, bởi vì PESC chỉ là một trong những phương pháp khởi đầu mà thôi.

Hai hệ thống dùng hình ảnh thay lời:

  • Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng thấp là những trợ cụ không thuộc điện tử, như bảng đối thoại bảng thời khóa biểu sách đàm thoại, sách có nhiều hình ảnh về thú vật, thức ăn, trái cây, địa danh, và những vật dụng rẻ tiền có thể tự làm được.
  • Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng cao là những trợ cụ điện tử.  Bằng những trợ cụ nầy, trẻ tự kỷ có thể bấm nút hay chạm tay vào màn hình để vừa nghe, vừa thấy hình ảnh.  Ví dụ, khi trẻ bấm hình có ly sữa, trợ cụ điện tử sẽ có lời phát ra: “Làm ơn, tôi muốn uống sữa.  Cảm ơn.”

Ngày nay, IPAD là một trợ cụ cao cấp, rất thông dụng, được nhiều trường học và trung tâm trị liệu tự kỷ xử dụng trong chương trình giảng dạy về nói/ngôn ngữ (AAC program).

Cần lưu ý rằng IPAD là một trợ cụ được ứng dụng với sự hiện diện và hướng dẫn của người lớn, chứ không phải là trợ cụ giữ trẻ như nhiều phụ huynh nhầm tưởng.

Phương Pháp Ứng Dụng Hành Vi Bằng Lời  (Verbal Behavior)

Phương pháp nầy là một nhánh tẻ của ABA/DTT do Tiến Sỹ Lovaas đề xướng năm xưa.  Ở Hoa Kỳ, vào những năm gần đây, phương pháp nầy trở nên rất thịnh hành.  Dựa vào triết thuyết của B.F. Skinner, phương pháp ứng dụng hành vi bằng lời có những trọng điểm như sau:

  • Nhấn mạnh tầm quan trọng về khả năng trao đổi ngôn ngữ của trẻ hơn là rèn luyện trẻ thành thạo về từ vựng.
  • Sự giảng dạy được thực hiện ở những môi trường tự nhiên và không bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định nào đó.
  • Nếu trẻ biết bày tỏ những hành vi thích hợp thì trẻ sẽ được những gì chúng muốn. Ví dụ, nếu trẻ chỉ đúng hay trả lời đúng câu hỏi về một vật thì trẻ sẽ được tưởng thưởng vật đó.
  • Kỹ năng được huấn luyện mãi cho đến mức thành thạo để trẻ tự kỷ có thể ứng dụng những kỹ năng đó một cách dễ dàng mà không cần phải suy nghĩ hay cố gắng trong nhiều tình huống khác nhau.

PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP BẰNG SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ XÃ HỘI (Relationship Developmental Intervention or RDI)

Ở Hoa Kỳ, phương pháp nầy tương đối mới và đang thu hút được nhiều sự chú ý của phụ huynh.  Tiến Sỹ Steven Gutstein, một chuyên gia tâm lý và về tự kỷ, đã thành lập và cổ động phương pháp trị liệu nầy ở mạng www.rdiconnect.com.  Tiến Sỹ Gutstein cho rằng kỹ năng giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ thay đổi qua từng giai đoạn, và vì vậy, phụ huynh hay giáo viên phải biết làm gì để giúp đỡ trẻ phát triển về mặt giao tiếp xã hội trong từng giai đoạn đó.  Ưu điểm của phương pháp nầy chính là sự thẩm định có thang bậc (scales) cho trẻ tự kỷ để soạn thảo những mục tiêu về mặt giao tiếp xã hội, nhất là đo lường được sự tiến bộ của trẻ trong những phiên bản về chương trình giáo dục cá nhân (IEP) ở nhà trường.  Hiện chưa có những nghiên cứu về tính hiệu quả của phương pháp nầy, chỉ biết rằng lý thuyết của Gutstein có thể ứng dụng bên ngoài lớp học bởi các phụ huynh và các chuyên gia đa ngành.

PHƯƠNG PHÁP NGỒI SÀN (FLOORTIME)

Ở Hoa Kỳ, Stanley Greenspan (1941-2010) và Serena Weider, hai chuyên gia về tâm thần học, là những người có công soạn thảo và ứng dụng phương pháp nầy. Mục đích của phương pháp ngồi sàn là tạo nên sự hứng khởi, động lực cho trẻ tự kỷ trong vấn đề trao đổi ngôn ngữ.  Thay vì trẻ ngồi xuống ghế học tập theo người lớn qua ABA, phương pháp ngồi sàn đòi hỏi người lớn phải gia nhập cuộc chơi với trẻ trên sàn, gọi là vòng tròn đối thoại (cirles of communication).

Trong sự ứng dụng phương pháp ngồi sàn hay ngồi dưới đất nầy, nếu trẻ hỏi và thực hiện điều gì đó thì người lớn sẽ trả lời và làm theo trẻ trong không khí thỏa mái, cùng nhau chơi đùa rất tự nhiên.

Phương pháp ngồi sàn khác với ABA/DTT của Lovaas như sau:

ABA/DTT Ngồi Sàn (Floortime)

  • Người lớn chủ động                                          Trẻ tự kỷ chủ động
  • Kéo trẻ ra ngoài thế giới riêng tư                      Đi vào thế giới riêng tư của trẻ
  • Dạy kỹ năng để tạo động lực, hứng khởi          Tạo hứng khởi để phát triển kỹ năng

Hiện chưa có những nghiên cứu nào cho thấy phương pháp ngồi sàn có thành quả tốt hơn những phương pháp khác.  Tuy nhiên, nhiều chuyên gia tự kỷ cho rằng ABA/DTT thúc đẩy trẻ tự kỷ tiến bộ nhanh hơn, hữu hiệu hơn phương pháp ngồi sàn.

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU/GIÁO DỤC  TRẺ TỰ KỶ VÀ TRẺ KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ (Treatment and Education of Autistic and Related Communication Handicapped Children or TEACCH)

Phương pháp nầy được các chuyên gia Eric Schopler, Gary Mesibov và đồng sự khởi xướng vào năm 1972, tại Đại Học Y Khoa North Carolina ở Chapel Hill, Hoa Kỳ.

TEACH đã và đang được ứng dụng trong các dịch vụ dành cho tự kỷ ở North Carolina và ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Nhật Bản.  TEACCH có tính cá nhân, đặt nặng nhu cầu cá biệt của từng trẻ tự kỷ, cho phép giảng viên và phụ huynh cùng nhau soạn thảo những mục tiêu trẻ cần phải đạt được.  Mô hình nổi bật của TEACCH là các lớp học riêng biệt, cô lập, nằm trong một khuôn khổ có tổ chức và nề nếp (self-contained classroom).

Các chuyên gia TEACCH cho rằng trẻ tự kỷ thâu thập thông tin hiệu quả bằng mắt chứ không bằng tai nghe. Vì vậy, chuyên gia TEACCH thường dùng hình ảnh để hướng dẫn trẻ tự kỷ sinh hoạt đúng theo thời khóa biểu để tạo nên thói quen về mặt sinh hoạt, học tập, cũng như biểu hiện những hành vi thích hợp và tích cực. Ví dụ, họ dạy trẻ biết để quần áo, các hộp đựng thức ăn trưa ở đâu khi bước vào lớp học bằng cách dựa theo hình ảnh chỉ dẫn, dạy trẻ biết lấy bài tập ở đâu và để đâu khi chúng làm xong, và kế tiếp sẽ làm gì dựa vào thời khóa biểu có hình ảnh đi kèm.

So Sánh Ưu Điểm và Khuyết Điểm Giữa TEACCH và ABA/DTT

ABA/DTT                                              TEACCH

–          Trẻ thực hiện công việc chính xác hơn      Trẻ có thời gian chấn chỉnh, tập trung hơn

–          Trẻ phụ thuộc vào giảng viên nhiều hơn   Trẻ có tính độc lập hơn

–          Trẻ giải quyết vấn đề từ ngoài vào trong   Trẻ giải quyết vấn đề từ trong ra ngoài

Giải quyết vấn đề từ ngoài vào trong (outside in) của ABA/DTT có nghĩa là gây sự tác động bên ngoài để giúp trẻ thực hiện công việc và dần dần giảm thiểu sự nhắc nhở bằng lời hay bằng dấu hiệu khi trẻ bắt đầu đạt được kỹ năng nào đó.

Giải quyết vấn đề từ trong ra ngoài (inside out) củaTEACCH có nghĩa là trẻ thực hiện một đòi hỏi hay công việc là do sự hứng khởi hay tác động từ bên trong, chứ không bằng sự nhắc nhở hay chủ động của người lớn từ bên ngoài như ABA.

Cũng như những phương pháp trị liệu khác, TEACCH có lắm kẻ khen, người chê.  Sự lựa chọn TEACCH hay nhiều phương pháp khác hoàn toàn tùy thuộc vào phụ huynh và những chuyên viên trong chương trình giảng dạy hay trị liệu.

PHƯƠNG PHÁP THAY ĐỔI NHỮNG HÀNH VI “ĐẶC BIỆT”  (Pivotal Response Training or PRT)

Bác Sỹ Robert và Lynn Koegel là hai chuyên gia tự kỷ sáng lập Trung Tâm Nghiên Cứu Tự Kỷ (Autism Reasearch Center) ở Đại Học Santa Barbara, California và là những chuyên gia cỗ vũ mạnh mẽ cho phương pháp nầy.  Dựa vào lý thuyết trị liệu về hành vi của Lovaas, phương pháp nầy nhắm vào những hành vi “đặc biệt” hay tiêu cực cần phải thay đổi ở trẻ tự kỷ.  Những hành vi đặc biệt còn được gọi là những hành vi trọng tâm, là chủ đích trong quá trình trị liệu.  Koegel cho rằng nếu những hành vi đặc biệt hay trọng tâm được thay đổi thì những hành vi tiêu cực, phụ thuộc khác sẽ dần biến đổi theo.

Bởi vì trẻ tự kỷ thường có trở ngại về ngôn ngữ và có những hành vi không thích hợp, phương pháp Koegel chủ trương thay đổi hành vi tiêu cực, củng cố những hành vi tích cực, cho trẻ sự tự do lựa chọn, hứng thú, không kỷ luật, gò bó trẻ trong một khuôn khổ nhất định, dạy trẻ về kỹ năng ngôn ngữ, biết giao tiếp xã hội và nâng cao mức độ tập trung của trẻ trong những môi trường tự nhiên (natural environment).  Ở trường học, PVT là phương pháp giảng dạy nhắm vào sở thích của trẻ, giúp trẻ tiến bộ về học tập và kết bạn. Ở gia đình, phụ huynh và thân nhân có thể ứng dụng PVT học hỏi được từ các giảng viên để giúp đỡ trẻ tiến bộ về nhiều kỹ năng cần thiết khác.

PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP (ECLECTICISM)

Từ tổng hợp eclecticism bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp eklektos hay eklektikos có nghĩa là sự sàng lọc (picked out, select) và là sự lựa chọn tốt nhất (choosing the best).

Phương pháp tổng hợp là sự hội tụ và ứng dụng lý thuyết hay ý tưởng của nhiều trường phái giảng dạy/trị liệu tự kỷ khác nhau.  Ví dụ, một chuyên gia ABA có thể kết hợp phương pháp ngồi sàn (floortime), hình ảnh của PECS, thời khóa biểu của TEACCH, và những phương pháp trị liệu khác về ngôn ngữ để dạy trẻ tự kỷ biết giao tiếp xã hội, trao đổi cảm xúc và ngôn ngữ hai chiều.

Nhiều chuyên gia tự kỷ giải thích đơn giản rằng chương trình giảng dạy/trị liệu tổng hợp (Electicism) chỉ là sự trộn  lẫn một chút phương pháp TEACCH của Eric Schopler, một chút ABA của Lovaas, một chút phương pháp ngồi sàn của Greenspan, và một chút phương pháp trị liệu cảm giác của Jean Ayres

Nhiều năm qua, “tín đồ” thuộc các trường phái TEACCH, ABA, Floortime thường tuân thủ theo những nguyên tắc của chính mình và không áp dụng hay kết hợp những cái hay, cái đẹp của những trường phái hay phương pháp trị liệu tự kỷ khác.  Ngày nay, mặc dù chưa có nhiều bằng chứng khoa học về tính ưu việt của phương pháp tổng hợp so với ABA, và mặc dù đã có nhiều sự lên án, chống đối kịch liệt của phụ huynh và các chuyên gia tự kỷ, nhiều học khu và các cơ quan cung cấp dịch vụ vẫn cỗ vũ và ứng dụng rộng rãi phương pháp tổng hợp nhằm tiết kiệm ngân quĩ giáo dục và nhân lực trong các chương trình can thiệp sớm ở cộng đồng và trong các chương trình giáo dục đặc biệt ở nhà trường.

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VẬN ĐỘNG  (Physical and Occupational Therapies)

Sự trị liệu vận động về vật lý (physical therapy) thường được thực hiện qua chương trình thể dục thích nghi (adaptive physical education) ở nhà trường, ở các trung tâm trị liệu dưới sự hướng dẫn của giáo viên chuyên về thể dục đặc biệt hoặc các chuyên viên có bằng cấp chuyên môn để giúp trẻ vận động những cơ bắp lớn (physical therapy) như dạy trẻ chạy, nhảy, kết hợp vận động chân tay, đi đứng cân bằng.  Còn sự trị liệu vận động nhỏ hay tinh vi (occupational therapy) ở nhà trường, ở nhà hay ở trung tâm điều trị chủ yếu là dạy trẻ biết cầm kéo cắt, cầm bút vẽ, viết, có những kỹ năng tự chăm sóc mình (self-help) như biết ăn, biết mặc, biết đánh răng, đi vệ sinh, biết cách học và biết cách chơi cùng chúng bạn.  Ngoài ra, các chuyên viên vận động tinh vi (occupational therapists) có thể ứng dụng phương pháp trị liệu về cảm giác (sensory integration therapy) để dạy trẻ biết nhận hiểu và điều chỉnh những tác động thuộc về cảm giác.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU HÒA CẢM GIÁC    (Sensory Integration or SI)

Mục đích của phương pháp trị liệu về cảm giác chính là giúp đỡ trẻ tự kỷ biết thu nhận, điều chỉnh và tổ chức những cảm giác từ sờ mó , nghe, cảm giác di động cân bằng, biết định vị trí, khoảng cách thích hợp giữa trẻ và người khác (body position, body distance), v.v…

Ở Hoa Kỳ, chuyên gia về vận động tinh và tâm lý cho trẻ chậm phát triển, Tiến Sỹ Jean Ayres (1920-1989), biệt danh A. Jean Ayes thuộc Đại Học UCLA, là chuyên gia đầu tiên đúc kết cụm từ rối loạn về sự kết hợp cảm xúc (sensory integration dysfunction) vào những năm 60.  Bà viết nhiều đề tài về phương diện nầy và khá nổi tiếng qua cuốn sách Sensory Integration and the Child.

Tiến Sỹ Ayes cho rằng trẻ bị chậm phát triển, kể cả tự kỷ, thường bị rối loạn về sự nhận hiểu cảm giác từ ngửi, nghe, thấy, sờ chạm, cũng như phản ứng hay di chuyển theo tác động của cảm giác.

Những phản ứng bất thường về cảm giác của trẻ tự kỷ:

  • Thiếu phản ứng :  Chậm hay không phản ứng đối với những tiếng động lớn, tiếng nói, ánh sáng rực rỡ, hay không lộ rõ sự đau đớn khi ngã té hoặc tự gây thương tích cho chính mình.
  • Phản ứng mạnh :  Bịt tai và la hét khi nghe những tiếng động bình thường hay bị sờ chạm.
  • Hành vi tự kích thích để tìm cảm giác :  Chơi với những ngón tay xòe ra trước mặt, nhìn đèn điện, vật thể nào đó không chớp mắt, lắc đầu, lắc mình, quay vòng vòng v.v …

Những rối loạn về cảm giác thường có những tác động đối nghịch về mặt học tập và quan hệ xã hội cho trẻ tự kỷ.  Hiện nay, sự ứng dụng trị liệu về cảm giác thường rất phổ biến ở trường học và ở các trung tâm trị liệu.                                                      

PHƯƠNG PHÁP DẠY KỸ NĂNG GIAO TIẾP XÃ HỘI  (Social Skill Training)

Phương pháp dạy kỹ năng giao tiếp qua những câu chuyện ngắn về xã hội (social stories), có hình ảnh và đối thoại, thường được các chuyên viên tâm lý, chuyên viên về hành vi, ngôn ngữ, giáo viên, phụ giáo, phụ huynh áp dụng trong giờ chơi ở trường, trong lớp học, ở nhà qua những trò chơi, sinh hoạt để giúp trẻ tự kỷ trao dồi kỹ năng giao tiếp xã hội và kết bạn.

Phương pháp kể chuyện social stories do Carol Gray giám đốc trung tâm chuyên nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp xã hội ở Grand Rapids, Michigan, Hoa Kỳ, khởi xướng vào năm 1991.

Những câu chuyện xã hội, ngắn, có hình ảnh và âm thanh phụ họa, được biên soạn để dạy trẻ biết nhận định, trao đổi ý kiến, gia nhập một vai trò, biết chơi, sinh hoạt, biết cư xử, tạo quan hệ xã hội, biết đồng cảm, và biết tích cực chủ động trong vấn đề giao tiếp xã hội hay trao dồi một kỷ năng nào đó. Ví dụ, người dẫn dắt hay điều hành (facilitator) có thể dùng một câu chuyện đơn giản để dạy trẻ biết nói “cảm ơn”, dạy trẻ rửa tay, chia sẻ đồ chơi, theo đúng sinh hoạt ở trường và trong lớp học. Ngoài ra, người điều hành có thể dùng những trẻ không bị khuyết tật cùng lứa tuổi làm những người mẫu (peer modeling) hướng dẫn một trò chơi hoặc sinh hoạt chung để trẻ tự kỷ học hỏi và làm theo.

Phương pháp nầy hữu dụng, lành mạnh, không tốn kém, nhưng đòi hỏi nhiều sự kiên nhẫn, sáng tạo, biết đặt mình vào nhiều tình huống khác nhau của chuyên viên, giáo viên và phụ huynh đối với trẻ tự kỷ.                                                        

Lời khuyên cho phụ huynh có con em khuyết tật về nói và ngôn ngữ:

  • Phụ huynh phải biết rõ mặt mạnh, mặt yếu của con em và nên chọn lựa những phương pháp nào thích hợp để phát triển mặt mạnh hay ưu điểm đó.
  • Phụ huynh nên tìm hiểu nhiều phương pháp giảng dạy/trị liệu bằng hình ảnh hay bằng những phương tiện thay lời khác
  • Phụ huynh nên đánh giá khách quan về một chương trình hay phương pháp giảng dạy bằng cách đặt ra những câu hỏi đơn giản như sau:

–          Những nghiên cứu khoa học của các chuyên gia độc lập trong ngành đã công bố như thế nào về chương trình hay phương pháp trị liệu do phụ huynh chọn lựa?

–          Liệu phương pháp giảng dạy/trị liệu do phụ huynh lựa chọn có đầy đủ dữ kiện để chứng minh một cách khoa học về tính hiệu quả hay chỉ đơn thuần là những ý kiến chủ quan, tự tăng bốc để trục lợi của các chuyên gia đề xướng chương trình hay phương pháp giảng dạy đó?

–          Liệu chương trình hay phương pháp do phụ huynh lựa chọn có thích hợp và nằm trong kế hoạch giáo dục/trị liệu dài lâu cho con em khuyết tật hay không?

Nhìn chung,, các phương pháp chỉ nên xem là một kỹ thuật nằm trong một Hệ thống can thiệp nhiều mặt ở các môi trường : Gia đình – Nhà trường và Xã hội dưới sự phối hợp của 3 vai trò là ; Phụ huynh – Giáo viên đặc biệt và Chuyên viên . Không chỉ giao việc can thiệp cho một vai trò riêng lẻ nào.

CvTL Lê Khanh

( lược soạn theo tài liệu : Tất cả về Tự Kỷ và Học Đường – TG: H. Tịnh )

Comments

comments

Lê Khanh
Lê Khanh
Chuyên gia tâm lý

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *